Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc

5/5 - (1 bình chọn)

Tiêu đề: Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Y học dựa trên bằng chứng được giới thiệu vào năm 1992 nhằm nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu khoa học trong việc đưa ra quyết định lâm sàng [1]. Thuật ngữ này sau đó được mở rộng ra cho các chuyên ngành khác như điều dưỡng, dược lâm sàng… và được chuyển thành Thực hành dựa trên bằng chứng (EBM). EBM là sự kết hợp chặt chẽ của ba thành tố quan trọng: bằng chứng tốt nhất, kinh nghiệm chuyên môn của nhà thực hành lâm sàng và giá trị, mong muốn của người bệnh [2]. Từ khái niệm này, chúng ta có các bước thực hiện EBM như sau: xây dựng câu hỏi lâm sàng, tìm kiếm bằng chứng, đánh giá bằng chứng, áp dụng và lượng giá. EBM được xem là nền tảng để cải thiện chất lượng hệ thống y tế, giảm chi phí y tế, và mang đến những kết cục tốt nhất cho người bệnh [4]. EBM còn giúp thúc đẩy phát triển chuyên môn, truyền động lực và tăng sự hài lòng nghề nghiệp ở nhân viên y tế.

Dược sĩ đóng vai trò quan trọng trong nhân lực y tế với vai trò độc lập và tự quyết trong quá trình theo dõi, chăm sóc người bệnh [9]. Nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh giúp cải thiện chất lượng sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Dược sĩ cần phải có năng lực phân tích vấn đề, tư duy phản biện, đánh giá và đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học. Kiến thức, thái độ, kỹ năng về EBM của Dược sĩ sẽ giúp họ xây dựng và duy trì thực hành lâm sàng chuyên môn tốt nhất. Tuyên ngôn Sicily đã chỉ rõ, hiểu và áp dụng được EBM là yêu cầu tối thiểu đối với tất cả nhân viên y tế. Tại Mỹ, EBM đã được xem là một trong những năng lực cốt lõi để duy trì sự cải thiện liên tục về chất lượng và an toàn dịch vụ y tế. Từ năm 2007, Bộ Y tế Đài Loan đã bắt đầu đầu tư nguồn lực và cơ sở hạ tầng cho EBM tại các bệnh viện trên khắp cả nước [12]. EBM là môn học bắt buộc trong chương trình giảng dạy tại Mỹ, Úc và Anh. Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng đã khẳng định rõ trong chuẩn năng lực quốc gia, EBM là giá trị cốt lõi trong thực hành của Dược sĩ [16]. Mặc dù EBM đã được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây, thuật ngữ này được nhắc đến nhiều trong chuyên ngành y hơn là những chuyên ngành khác như Dược sĩ. Thiếu kiến thức, kỹ năng và thái độ tích cực là những rào cản đối với EBM, và vấn đề này cũng đang hiện hữu tại Việt Nam. Việc lượng giá năng lực EBM là rất quan trọng, tuy nhiên chất lượng các công cụ hiện tại còn thấp và chưa có công cụ nào đánh giá đầy đủ 5 bước EBM. Các công cụ lượng giá EBM chỉ được sử dụng phổ biến trong y đa khoa, gần đây là phục hồi chức năng và điều dưỡng. Tuy nhiên, các công cụ này chỉ lượng giá năng lực EBM ở một hoặc hai bước.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp dịch ngược-xuôi [14] để xây dựng phiên bản tiếng Việt của HS-EBP. Quá trình dịch chú trọng sự tương đồng về mặt ngôn ngữ và văn hóa. Phiên dịch viên tham gia vào nghiên cứu thành thạo cả hai ngôn ngữ Anh-Việt và có chuyên môn y khoa. Phỏng vấn sâu được thực hiện để kiểm tra mức độ hiểu các câu hỏi và khó khăn khi trả lời (nếu có) của đới tượng tham gia nghiên cứu [15].Bộ câu hỏi HS-EBP gồm 60 câu, sử dụng thang đo Likert 10 điểm, điểm càng cao thể hiện mức độ đồng thuận càng lớn. HS-EBP phiên bản gốc có Cronbach’s alpha 0.84–0.96 cho 5 tiêu chí đánh giá, tương quan ICC từ 0.35-0.63; giá trị cấu trúc qua phân tích nhân tố phù hợp với 5 tiêu chí, và giá trị tiêu chuẩn có tương quan ý nghĩa thống kê với các thang đo tương tự [12].Người tham gia nghiên cứu được giải thích chi tiết về mục đích của nghiên cứu và ký đồng thuận tham gia nghiên cứu. Việc tham gia nghiên cứu là tự nguyện, và người tham gia có thể rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng đến quá trình công tác của họ.
Tổng cộng có 342 Dược sĩ tham gia vào nghiên cứu. Độ tuổi trung bình của Dược sĩ là 35.49 (SD = 7.57) và kinh nghiệm làm việc là 12.34 năm (SD = 7.33). Gần 50% có bằng cử nhân và phần lớn làm việc ở các khoa nội trú (n = 248, 72.51%). Trên thang điểm 10, mức độ khó khăn khi đọc bài báo tiếng Anh của Dược sĩ là 6.84 (SD = 2.19). Gần ½ Dược sĩ đã được học về EBM tại trường. Tuy nhiên, đa số Dược sĩ không có kinh nghiệm về đặt câu hỏi (n = 153, 44.74%), tìm kiếm bằng chứng (n = 211, 62%), và phê bình bài báo (n = 274, 80.12%).
THS-EBP phiên bản tiếng Việt có độ tin cậy và tính giá trị tốt, có thể được sử dụng để đánh giá năng lực EBM của nhân viên y tế Việt Nam, cũng như có thể xác định những rào cản và hỗ trợ đối với EBM. Có thể dùng thang đo để đánh giá những hạn chế về kiến thức, kỹ năng, và thái độ của nhân viên y tế đối với EBM, từ đó thiết kế những chương trình can thiệp phù hợp giúp nâng cao năng lực EBM cho nhân viên y tế, từ đó giúp cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Download tài liệu

Liên hệ dịch vụ viết bài:

Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *