Tình hình ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố Hà Nội

5/5 - (2 bình chọn)
Tiểu luận mẫu: Tình hình ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố Hà Nội
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp
MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề 2
2. Tổng quan về ô nhiễm môi trường và ô nhiễm không khí 3
2.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường và ô nhiễm không khí 3
2.2. Nguồn gốc, tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí 3
2.3. Đánh giá mức độ ô nhiễm không khí 5
2.4. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới môi trường và sức khỏe 6
3. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Nội 10
4. Tình hình ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội 11
4.1. Mức độ ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội 11
4.2. Nguyên nhân và tác nhân gây ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội 14
4.3. Tác động của ô nhiễm không khí đối với môi trường và sức khỏe 18
5. Một số giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội 19
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Nếu bạn đang trong quá trình viết tiểu luận, bạn bận công việc không thể tự mình hoàn thiện được đề tài cho mình được. Bạn cần một đơn vị hỗ trợ viết thuê tiểu luận giá rẻ thì có thể liên hệ với Luận Văn Group để được hỗ trợ nhé. Chúng tôi nhận viết thuê tiểu luận với nhiều cam kết chất lượng cho khách hàng.
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Bảng phân mức ô nhiễm hay chất lượng môi trường không khí và các gam mầu được sử dụng trong đánh giá Ô nhiễm không khí…………………………………………..6
Biểu đồ 1: Diễn biến chỉ số chất lượng không khí AQI ở 5 trạm quan trắc tự động, liên tục giai đoạn 2011 – 2015 13
Biểu đồ 2: Diễn biến nồng độ bụi PM10 trung bình năm tại một số trạm quan trắc tự động, liên tục giai đoạn 2011 – 2015 14
Biểu đồ 3: Diễn biến nồng độ bụi theo các tháng giai đoạn 2011 – 2015 tại Hà Nội 15
Biểu đồ 4: Diễn biến nồng độ các loại bụi PM10, PM2,5, PM1 trong ngày tại Hà Nội 16
1. Đặt vấn đề
Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng tại các đô thị và siêu đô thị không chỉ còn là vấn đề mới hay riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu. Với những hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người là nguồn gốc chính dẫn đến tình trạng trên, đặc biệt là với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ đã khiến cho môi trường phải gánh chịu những hệ quả nặng nề. Ngược lại, khi môi trường bị tổn thương đến mức không thể phục hồi sẽ có tác động trở lại đến chính sức khỏe con người. Trong đó, ô nhiễm không khí hiện nay là chủ đề nóng đang được đề cập tại rất nhiều diễn đàn, hội thảo trên toàn thế giới. Hậu quả đã được kiểm chứng khi mà những năm gần đây nhân loại đã phải trải qua hiệu ứng từ ô nhiễm môi trường không khí đó là: sự biến đổi của khí hậu – nóng lên toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn và mưa axít. Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khỏe con người(đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu như: hiệu ứng nhà kính, mưa axít và suy giảm tầng ôzôn,. Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn. Đặc biệt là thủ đô Hà Nội hiện đang được nhắc đến không chỉ tại các diễn đàn môi trường trong nước mà trong khu vực về tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề. Những hội thảo về hiện trạng ô nhiễm không khí tại Hà Nội được tổ chức với sự tham gia của nhiều học giả cũng như chuyên gia về lĩnh vực môi trường đã đưa ra những bằng chứng cụ thể về mức độ ô nhiễm không khí ở mức báo động và cần có những hành động cụ thể. Ở các khu công nghiệp, các trục đường giao thông lớn đều bị ô nhiễm với các cấp độ khác nhau, nồng độ các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Và sự gia tăng dân số, gia tăng đột biến của các phương tiện giao trong khi cơ sở hạ tầng còn thấp làm cho tình hình ô nhiễm trở nên trầm trọng. Xuất phát từ thực tiễn trên, em lựa chọn đề tài “Tình hình ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố Hà Nội” làm chủ đề tiểu luận, dựa trên cơ sở lý luận đề tài phân tích tình hình ô nhiễm môi trường không khí, phát hiện ra những vấn đề cần quan tâm và từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại địa bàn nghiên cứu
2. Tổng quan về ô nhiễm môi trường và ô nhiễm không khí
2.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường và ô nhiễm không khí
* Khái niệm ô nhiễm môi trường: 
Theo luật Bảo vệ môi trường 2014 tại điều 3 khoản 8: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Sự thay đổi tính chất của môi trường được hiểu là sự thay đổi tính chất lý học, hoá học và sinh học của môi trường. Ví dụ như sự thay đổi nồng độ CO2 trong không khí, nồng độ O2 trong nước… làm cho tính chất môi trường bị thay đổi. Tiêu chuẩn môi trường là là những qui định (hay giới hạn cho phép) về các thành phần (chỉ tiêu) được phép thải ra trong môi trường.
* Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí:
Theo khái niệm chung về ô nhiễm môi trường thì ô nhiễm môi trường không khí (ô nhiễm không khí) là sự có mặt của chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho nó không sạch, bụi, có mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn xa, có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, đến môi trường xung quanh, đến sức khoẻ con người…
2.2. Nguồn gốc, tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí
* Nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường không khí 
Có hai nguồn cơ bản gây ô nhiễm môi trường không khí:
– Nguồn ô nhiễm tự nhiên: như núi lửa phun, cháy rừng, gió bão, quá trình thối rữa của xác động vật và thực vật chết ở tự nhiên,… Tổng lượng các chất ô nhiễm không khí có nguồn gốc rất lớn, nhưng phân bố đồng đều trên phạm vi toàn thế giới.
– Nguồn ô nhiễm nhân tạo: Nguồn ô nhiễm nhân tạo gây ra chủ yếu là do quá trình đốt cháy các nhiên liệu (gỗ, than, củi, dầu mỏ…) sinh ra. Có thể chia các loại nguồn ô nhiễm nhân tạo như sau:
 Ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp: bởi hai quá trình chính: quá trình đốt cháy nhiên liệu hoá thạch để lấy nhiệt và quá trình bốc hơi, rò rỉ, thất thoát chất độc trên dây truyền sản xuất. Mỗi ngành công nghiệp, tuỳ theo dây truyền sản xuất, tuỳ theo nhiên liệu sử dụng, quy mô sản xuất, loại nguyên liệu và sản phẩm của nó, tuỳ mức độ cơ giới hoá, tự động hoá trong dây truyền mà lượng chất độc sẽ khác nhau. Cùng với sự phát triển của công nghiệp thì mức độ nguy hại do ô nhiễm môi trường gây ra ngày càng tăng.
 Ô nhiễm môi trường do giao thông vận tải: giao thông vận tải cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm lớn cho môi trường không khí: 2/3 khí CO và 1/2 khí hydrocacbua và nitơ oxyt là do giao thông đóng góp.
 Ô nhiễm môi trường do sinh hoạt của con người: Nguồn ô nhiễm này gây ra chủ yếu do bếp đun nấu và các lò sưởi gỗ củi, than đá, dầu mỏ hoặc khí đốt… Nhìn chung ô nhiễm này nhỏ nhưng lại có đặc điểm là ở sát cạnh con người cho nên tác hại của nó rất lớn và nguy hiểm. Đối với các khu nhà có đông người ở, hệ thống thoát khói nếu thiết kế không tốt sẽ ảnh hưởng xấu đến con người.
 Ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp: Nguồn ô nhiễm này chủ yếu do sử dụng hoá chất trong nông nghiệp, hay phân tươi chưa ủ,…
* Tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí:
Các tác nhân gây ô nhiễm không khí bao gồm:
– Các loại oxyt như: NO¬x, CO, CO2, SO2, H2S, các khí halogen gồm flo, clo, brôm, iôt,…
– Các hợp chất flo.
– Các chất tổng hợp như ête, benzen.
– Các phần tử lơ lửng như hạt bụi rắn, hụi lỏng, bụi vi sinh vật, nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, khói, sương mù, phấn hoa, …
– Các loại hạt bụi nặng như đất đá, bụi kim loại như Cu, Pb, Fe, Zn, Ni,…
– Khí quang hoá như O3, NOx, anđêhyt, etylen,…
– Chất thải phóng xạ.
– Nhiệt.
– Tiếng ồn.
Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên liệu và sản xuất công nghiệp, các tác nhân ô nhiẽm có thể phân thành hai dạng: dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ. Phần lớn các tác nhân ô nhiễm đều gây nguy hiểm đối với con người và khí quyển, trong đó phải kể đến một số chất đặc biệt nguy hiểm như CO2, SO2, CO, N2O, CFC. 
2.3. Đánh giá mức độ ô nhiễm không khí
Để bảo vệ sức khỏe của con người trước tác động xấu của ô nhiễm không khí (ÔNKK), một số quốc gia trên thế giới đã đưa ra quy định về trị số nồng độ các chất ô nhiễm cơ bản trong không khí thực tế không được vượt quá các trị số tiêu chuẩn/quy chuẩn cho phép. Tại Việt Nam đối với bụi PM10 tiêu chuẩn/quy chuẩn nồng độ trung bình năm tối đa cho phép là 50 µg/m3, nồng độ trung bình ngày tối đa cho phép là 150 µg/m3. Để đánh giá mức độ ô nhiễm của không khí các quốc gia thường dùng chỉ số chất lượng không khí (AQI). Chỉ số chung đánh giá chất lượng không khí AQI được xác định là thông số ô nhiễm lớn nhất theo Quyết định số 878/QĐ-TCMT ngày 01 tháng 7 năm 2011 của Tổng cục Môi trường về việc ban hành sổ tay tính toán chỉ số chất lượng không khí, được thể hiện qua các thang điểm sau:
Bảng 1: Bảng phân mức ô nhiễm hay chất lượng môi trường không khí và các gam mầu được sử dụng trong đánh giá Ô nhiễm không khí
Giá trị AQI Chất lượng
 không khí Ảnh hưởng sức khỏe Màu
0 – 50 Tốt Không ảnh hưởng đến sức khỏe Xanh
51- 100 Trung bình Nhóm nhạy cảm nên hạn chế thời gian ở bên ngoài nhà Vàng
101-200 Kém Nhóm nhạy cảm cần hạn chế thời gian ở bên ngoài nhà Da cam
201 – 300 Xấu Nhóm nhạy cảm tránh ra ngoài. Nhóm người khác hạn chế ở bên ngoài Đỏ
Trên 300 Nguy hại Mọi người nên ở trong nhà Nâu
Ghi chú: Nhóm nhạy cảm bao gồm: trẻ em, người già và những người mắc bệnh hô hấp.
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015
Đây là chỉ số đại diện cho nồng độ của một nhóm các chất ô nhiễm gồm: CO, NO2, SO2, O3 và bụi, nhằm cho biết tình trạng chất lượng không khí khu vực ven đường hoặc dân cư trong Thành phố, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân. Bụi PM2.5 là loại bụi siêu nhỏ trong khí quyển,với đường kính động học ≤2,5µm, và có khả năng đi sâu vào phế nang phổi có thể gây viêm nhiễm đường hô hấp và làm tăng nguy cơ tử vong của những người mắc bệnh ung thư phổi và bệnh tim. Mức độ ô nhiễm hay chất lượng không khí thường được chia thành 5 mức (tốt, không ô nhiễm, ô nhiễm, ô nhiễm nặng, ô nhiễm rất nặng). 
Các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ ô nhiễm bao gồm: gió, nhiệt độ, đại hình mặt đất, dạng bề mặt, loại thảm thực vật, độ ẩm và mưa. Gió (hướng gió, tốc độ gió) hình thành các dòng chuyển động “rối” của không khí bề mặt trái đất, đóng vai trò chính trong sự phân tán ô nhiễm. Nhiệt độ của không khí có ảnh hưởng đến phân bố nồng độ chất ô nhiễm trong không khí. Địa hình mặt đất ảnh hưởng đến trường gió trong khu vực và do đó ảnh hưởng đến việc phát tán chất thải. Dạng bề mặt, loại thảm thực vật, độ ẩm và mưa cũng có ảnh hưởng đến sự phát tán chất thải.
2.4. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới môi trường và sức khỏe
Ô nhiễm không khí làm hại sức khoẻ của người, đời sống sinh vật và gây ảnh hưởng xấu cho môi trường, đặc biệt là khí hậu toàn cầu.
– Ô nhiễm môi trường không khí gây hại cho sức khoẻ con người. Chủng loại và sự trầm trọng của các ảnh hưởng này tùy thuộc loại hóa chất, nồng độ và thời gian nhiễm. Các nhóm đặc biệt nhạy cảm là những người bị rối loạn tim phổi, trẻ em, nhất là các bé hiếu động và những người bị cảm lạnh và nghẹt mũi phải thở bằng miệng. Khó mà nói một chất độc cụ thể nào gây ra một bệnh cụ thể nào. Vì các chất ô nhiễm tác động trong một thời gian dài, có sự cộng hưởng của nhiều chất và thời gian ủ bệnh lâu như bệnh khí thủng, viêm phế quản mãn tính, ung thư phổi và bệnh tim. Nhiều loại bệnh tật đối với con người sẽ xuất hiện khi thời tiết thay đổi, ví dụ bệnh dịch tả, bệnh cúm, bệnh viêm cuống phổi, bệnh nhức đầu…
– Ô nhiễm không khí gây ra sự quá tải và xuống cấp của cơ chế tự vệ của cơ thể người chống lại những tổn thương do ô nhiễm gây ra. Rất may khi hệ hô hấp người có nhiều cơ chế tự vệ chống lại ô nhiễm không khí. Khi ta hít vào, lông mũi chặn các bụi lớn và khi chất ô nhiễm kích thích mũi thì ta nhảy mũi (hắt hơi) đẩy không khí ra. Hơn nữa vách mũi, khí quản, phế quản và vi phế quản được phủ chất nhầy. Chất nhầy thu giữ các bụi nhỏ và hòa tan các chất ô nhiễm không khí. Phần lớn ống hô hấp được trải bởi màng tiêm mao, chúng uốn lượn đẩy chất nhầy và chất ô nhiễm về phía miệng, từ đó chúng sẽ được tống ra ngoài cơ thể. Nếu phổi bị kích thích, chất nhầy chảy nhiều hơn tạo ra ho, đẩy không khí và các chất nhầy ô nhiễm ra ngoài cơ thể. Khi bị nhiễm chất ô nhiễm mạnh hay thời gian nhiễm kéo dài, tuy với nồng độ thấp, chất nhầy bị bão hòa, chất ô nhiễm sẽ vào sâu trong hệ hô hấp và gây hại nhiều hơn. Bụi mịn rất hại vì có thể vào sâu mang theo các chất độc gắn vào các bề mặt của phế quản hay phân bào. Nhiễm khói thuốc lâu dài và các chất ô nhiễm khác như ozone, SO2, NO2 làm hủy hoại tiêm mao. Do đó vi khuẩn và các hạt mịn xuyên thấu phế bào làm viêm nhiễm và ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc lâu năm và nhiễm ô nhiễm không khí làm chất nhầy nhiều, ngăn chặn luồng khí và tạo ra ho. Khi cơ của phế quản bị chai vì ho lâu, chất nhầy tích tụ và thở ngày càng khó, sẽ dẫn đến viêm phế quản mãn tính.Bệnh khí thủng xảy ra khi 1 số lớn phế bào bị hư hại làm cho bệnh nhân không thể thở ra hết khí trong phổi, phế bào bị đóng lại, khí độc sẽ lan sang các phế bào kế cận, chúng mất khả năng đàn hồi và có thể bị rách làm giảm diện tích cần thiết để oxi vào máu. Bệnh nhân có thể chết vì suy tim hay nghẹt thở. Bệnh khí thũng giết chết nhiều người hơn ung thư và nan y. Ung thư phổi là do sự tăng trưởng bất thường của tế bào màng nhầy phế quản. Hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu, nhưng nó cũng do sự hít phải các chất ô nhiễm không khí: chất phóng xạ, bụi amiant, arsenic, Cr, Ni… Các công nhân làm việc trong các nhà máy ô nhiễm không khí là đối tượng của các bệnh mãn tính. Họ thường bị ho, thở ngắn, viêm phổi, viêm phế quản, khí thủng và ung thư phổi. Đáng chú ý là sợi Asbete (một loại amiant) dù với lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư phổi 15 đến 40 năm sau. Tấm lợp fibrociment có sợi amiant là một nguy hiểm tiềm tàng cho chúng ta.
– Ô nhiễm không khí làm mỏng màn ozone.
Màn ozone chiếm khoảng 2/3 phía trên của tầng bình lưu, tức cách mặt đất từ 20 đến 40 km, trong đó khí O3 tập trung chủ yếu ở độ cao 25 km so với mặt đất. Tầng này là tấm màn che bảo vệ sinh vật khỏi bị gây hại bởi tia cực tím (UV, được biết có thể gây ung thư và đột biến). Bức xạ mặt trời chiếu qua tầng ozone xướng mặt đất, phần lớn bức xạ tia tử ngoại được tầng ozone hấp thụ, điều tiết khí hậu và sinh thái trái đất. Khi tia cực tím chạm các phân tử ozone, nó sẽ cắt các phân tử này, để tạo ra O và O2. Các chất này mau chóng kết hợp trở lại, tái tạo ozone và sinh nhiệt. Như vậy tầng ozone là tầng có thể tái tạo, biến tia cực tím có hại thành nhiệt (vô hại). Sự sống trên Trái Đất này tùy thuộc vào tác động bảo vệ này của tầng ozone, nếu không, sự sống không thể tồn tại được. Nhưng vài hoạt động của con người gây ra ô nhiễm không khí lại phá tầng ozone. Ba hoạt động này chủ yếu đã được liệt kê: CFCs (còn gọi là khí feron), động cơ phản lực siêu thanh và nổ vũ khí hạt nhân. Sự nổ vũ khí hạt nhân cũng tạo ra oxyd nitric, phá hủy màng ozone. Ngoài ra phân đạm sử dụng trong nông nghiệp cũng có thể chuyển thành khí oxyd nitric thoát lên tầng bình lưu để phản ứng với phân tử ozone và tàn phá màn này. Màng ozone bị mỏng sẽ làm tia cực tím gia tăng ở mặt đất. Ở liều hợp lý, tia UV làm sạm da và kích thích sự tạo ra vitamin D ở da. Tuy nhiên phơi dưới tia UV mạnh dễ gây phỏng nặng và dẫn tới ung thư da. Các nhà nghiên cứu y khoa tin rằng màng ozone giảm 1% có thể làm tăng 2% ung thư da. Thực vật cũng chịu ảnh hưởng của tia UV. Chúng thường bị chết ở liều cao, còn ở liều thấp thì lá cây bị hư hại, quang hợp bị ngăn trở, tăng trưởng chậm và đột biến.
download tài liệu tại link
Liên hệ dịch vụ viết bài:
Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *