Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên

5/5 - (1 bình chọn)

Luận văn Group xin chia sẻ cho các bạn một bài tiểu luận:

Tên tiểu luận: ” Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên Trung học phổ thông theo hệ thống tín chỉ ở các trường Đại học sư phạm”

Trong những năm gần đây, hệ thống tín chỉ đang thay thế dần hệ thống học niên chế trong hầu hết các trường đại học ở Việt Nam nói chung và các trường đại học sư phạm nói riêng. Vẫn là hình thức dạy – học nhưng sinh viên được chủ động hơn trong việc học, được rèn luyện kỹ năng và có kiến thức riêng của bản thân chứ không còn phụ thuộc nhiều vào giảng viên như trước. Do đó, việc đào tạo đội ngũ giảng viên theo phương pháp mới là thử thách rất lớn đối với ngành Giáo dục – Đào tạo nước ta.

    Hiện nay việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ đang trở thành một xu thế tất yếu mà các trường đại học phải hướng tới và triển khai thực hiện.

Khái niệm tín chỉ

Cách đây 4 năm, tôi đã có cơ hội trải nghiệm hệ thống tín chỉ khi đang theo học tại Đại học Công nghiệp Tp.HCM, một trong những trường đại học tiên phong áp dụng hệ thống này. Tuy còn nhiều mặt hạn chế, chưa được hoàn thiện theo chuẩn quốc tế, nhưng nó đã đem lại cho tôi hiệu quả học tập, nguồn tri thức dồi dào và sâu sắc hơn so với kiểu truyền thống trước đây. Với hệ thống này, tôi có thể tự chọn, đăng ký môn học yêu thích, tự lập thời khóa biểu cho từng học kỳ, chủ động quản lý thời gian học tập, lượng kiến thức cho bản thân.

Có khá nhiều định nghĩa về tín chỉ, riêng Việt Nam được biết đến nhiều nhất là định nghĩa của học giả James Quann, Đại học Washington.

Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài… đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần.

(Bản dịch của Bộ giáo dục và Đào tạo)

Định nghĩa của James khá đầy đủ nhưng chưa làm nổi bật điểm đặc biệt phương thức đào tạo theo tín chỉ là việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng và được tính vào nội dung, thời lượng của chương trình.

Thực trạng

Lâu nay, báo chí vẫn nói nhiều về tình trạng nhiều trường THPT chưa đáp ứng được tốc độ phát triển của giáo dục nghề nghiệp trong điều kiện mới. Do vậy, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục (Bộ GD-ĐT) đã tổ chức một cuộc thi kiểm tra chất lượng giáo viên ở nhiều địa phương trong cả nước và kết quả thu được không mấy khả quan. Được biết, sau cuộc kiểm tra này, khá nhiều giáo viên có điểm dưới trung bình. Đặc biệt, ở tỉnh Bắc Ninh, với bộ môn ngoại ngữ, trong khoảng 5000 giáo viên dự thi thì con số giáo viên đạt trên mức điểm trung bình chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Nhận định về vấn đề này, nhiều chuyên gia trong ngành giáo dục cho rằng, hiện một bộ phận giáo viên dạy THPT kiến thức còn yếu và nặng lý thuyết, đặc biệt về kỹ năng giảng dạy thực hành và giáo dục học sinh giờ ngoại khóa. Mặc dù phần đông đã có chứng chỉ sư phạm bậc I và bậc II nhưng chưa đủ sức đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục hiện hành.

Theo chương trình khung của Bộ GD – ĐT, tổng thời gian dành cho kiến thức sư phạm đối với đào tạo giáo viên sư phạm chỉ chiếm từ 16 – 18% trong khi đó kiến thức đại cương lại chiếm tới 38%. Nhiều sinh viên sư phạm khi ra trường kiến thức tốt, chuyên môn tốt nhưng phương pháp sư phạm thì lại rất yếu, thiếu tự tin khi đứng trên bục giảng. Điều này cho thấy chương trình đào tạo giáo viên của các trường sư phạm còn khá nhiều điều bất hợp lý.

          Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Tiến sĩ Vũ Văn Xê, Trường Đại học Cần Thơ cho rằng “ Việc tự học đối với sinh viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần cho sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sang tạo của cá nhâ. Hầu hết sinh viên đều nhận thức rằng vấn đề tự học là quan trọng khi áp dụng theo học chế tín chủ (83%), tuy nhiên việc tự học này đông nghĩa với hình thức học cá nhân ( 62,1%), không phụ thuộc vào người khác và không cần sự cộng tác của bạn bè. Sinh viên cho rằng đây là yêu cầu tối thiểu của một sinh viên. Ngoài ra phải giao lưu học hỏi ở các bạn ngành khác, các lớp đàn anh để nâng cao trình độ và nắm bài tốt hơn. Học theo chương trình tín chỉ hóa nên việc tự học là rất quan trong, tuy nhiên để nhằm bổ sung thêm kiến thức sinh viên thường tạo ra những nhóm học để các bạn dễ dàng trao đổi kiến thức và giúp đỡ nhau trong học tập. có lớp cho rằng việc tự học có nghĩa là học theo nhóm (61,3%)

Với chương trình đào tạo theo tín chỉ, thời lượng lên lớp giảm mạnh, giúp cho sinh viên còn nhiều thời gian tự học, tự nghiên cứu. Hầu hết các môn học đều giảm khoảng trên dưới 50%, thậm chí có môn giảm trên 70% thời lượng. Như vậy, sẽ có một phần lớn kiến thức sinh viên phải tự nghiên cứu để nắm vững mà không cần phải lên lớp. Việc này tạo kỹ năng tự quản lý thời gian biểu cũng như quá trình học tập của mình, là tiền đề phát triển kỹ năng chuẩn bị giáo án cho việc giảng dạy sau này.

Theo hệ thống tín chỉ, giờ lý thuyết lên lớp được giảm thiểu, đồng thời, tăng tối đa giờ thực hành, những giờ thực tập được kéo dài cả học kỳ (4-6 chỉ), căn cứ vào đề cương môn học cứ 1 tiết lý thuyết thì 2 tiết tự học và 3 tiết thực hành (theo cấp độ 1 – 2 – 3). Điều này sẽ tạo điều kiện cho các giáo viên tương lai tích lũy một số kinh nghiệm đứng lớp trước khi bước chân vào nghề thực sự. Hơn nữa, sinh viên còn có thể tự chọn học nhiều môn chuyên ngành khác nhau nếu muốn. Tuy nhiên, việc học chỉ thu được kết quả khi sinh viên biết xây dựng kế hoạch học một cách chặt chẽ, logíc và khoa học.

Giải pháp

Để tiến hành đổi mới triệt để hệ thống đào tạo trong các trường đại học, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quy chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT trong Thông tư số 30/2011.

Mặt khác, triển khai thực hiện Dự án Phát triển giáo viên THPT tại các trường Đại học Sư phạm trên toàn quốc. Giám đốc Dự án Vũ Quốc Chung cho biết, kết quả bền vững mà dự án đã đạt được là xây dựng, ban hành hàng loạt các chuẩn về quản lý đội ngũ giáo viên như: chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT, chuẩn hiệu trưởng trường THPT, chuẩn chương trình đào tạo giáo viên ngành sư phạm.

Như đã đề cập ở trên, phương thức đào tạo theo tín chỉ là phương thức đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy và học, tạo cho họ thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, có kĩ năng giải quyết vấn đề, tự chủ động thời gian hoàn thành một môn học, một chương trình học. Theo đó, khung chương trình đào tạo có xu hướng tăng cường các môn đào tạo chuyên môn sâu và khả năng dạy nhiều môn học; tăng thời lượng thực tế chuyên môn. Cụ thể, sinh viên sẽ tiếp cận với trường phổ thông sớm hơn để quá trình gắn bó với trường phổ thông được dài hơn, hiểu biết về phổ thông sâu sắc hơn chứ không để đợi đến những năm cuối mới đi thực tập. Hơn thế, theo truyền thống nhiều năm nay, sinh viên sư phạm chỉ thực tập trong vài tháng, phần lớn là dự giảng và chỉ được các trường THPT cho phép đứng lớp 1 giờ khiến sinh viên chưa kịp làm quen với kỹ năng giảng dạy thực tế.

Vậy làm sao cho khi sinh viên ra trường đáp ứng được chuẩn yêu cầu nghề nghiệp chứ không còn bỡ ngỡ như hiện nay?

Câu trả lời rất đơn giản nhưng lại rất khó thực hiện. Sinh viên cần phải được nhiều lần thực tập ở trường phổ thông, ở nhiều loại hình trường lớp (công lập và tư thục; thành phố và nông thôn; trường tốt và trường trung bình, yếu), làm cho sinh viên hiểu biết một cách đầy đủ thực tế, tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm, giảng dạy, có đủ vốn sống và kinh nghiệm nghề nghiệp để khi ra trường có thể công tác tốt ở bất kì ở loại trường nào, vùng miền nào của hệ thống các trường phổ thông. Và thực tế, khó khăn gặp phải là sẽ rất ít trường học ủng hộ hay tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình thực tập này.

Thứ ba, hiện nay, các trường THPT đang dần áp dụng công nghệ cao cùng với phương pháp giảng dạy mới theo quy định của Bộ GD-ĐT. Vì vậy, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng tại các trường đại học tạo điều kiện cho sinh viên làm quen với các công cụ giảng dạy là điều cần thiết. Kết hợp với khóa thực tập, sinh viên sẽ không bối rối khi bước chân vào môi trường lớp học thực sự.

Thứ tư, dù theo phương thức tín chỉ, người học tự tìm tòi, tự chủ động học tập, khám phá, nhưng vẫn không thể phủ nhận được vai trò của giảng viên, người sẽ hướng dẫn, định hướng cho sinh viên biết chọn lọc kiến thức, không tốn thời gian học tràn lan. Do đó, các trường đại học cũng phải lên kế hoạch đào tạo đội ngũ giảng viên để phù hợp với phương thức học mới.

Kết luận

Có thể nói, hệ thống tín chỉ có khá nhiều ưu điểm. Nếu áp dụng cho ngành sư phạm, nó sẽ trở thành tiền đề để nâng cao chất lượng nền giáo dục của nước ta. Tuy nhiên, việc thay đổi cả một hệ thống giáo dục không thể là chuyện một sớm một chiều. Các trường đại học sư phạm hiện nay tuy chưa thu được thành tựu gì đáng kể, nhưng những chính sách tích cực từ phía Bộ Giáo dục & Đào tạo sẽ là điểm tựa vững chắc cho quá trình cải cách này.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Kỷ yếu Hội nghị Toàn quốc các trường Sư phạm, Hà Nội, tháng 8 – 2011.
  2. Trường ĐHSP Hà Nội (2012), Cơ sở lý luận của việc đổi mới đào tạo giáo viên, Hà Nội.
  3. Vũ Quốc Chung – Nguyễn Văn Khải – Cary J. Trexler…(2011), Tài liệu hướng dẫn tăng cường năng lực sư phạm cho giảng viên các trường đào tạo giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp, NXB Giáo Dục, HN.
  4. Vũ Quốc Chung – Nguyễn Văn Khải – James Cameron…(2011), Giới thiệu mô hình đào tạo giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm, NXB Giáo Dục, HN.
  5. Trường ĐHSP Hà Nội (2011), Nghiên cứu, giảng dạy lịch sử trong bối cảnh hội nhập quốc tế & phát triển kỷ năng tự học cho học sinh, HN.
  6. Lê Khánh Bằng, (1998), “Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học”. Trường ĐHSP Hà Nội, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  7. Nguyễn Văn Đệ – Vũ Văn Đức, “Bàn về mô hình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở các trường đào tạo giáo viên”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 79- tháng 4, 2012.
  8. Nguyễn Mai Hương. “Hoạt động tự học của sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ”. Tạp chí Giáo dục số 219/2009.
  9. Nguyễn Cảnh Toàn, (1998), Quá trình dạy tự học, NXB Giáo dục, Hà Nội.


    Để lại một bình luận

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *