PHÂN TÍCH QUY LUẬT CUNG CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

5/5 - (1 bình chọn)

Giải thích quy luật cung cầu trên thị trường chứng khoán
Quy luật cung cầu là một lý thuyết nhằm giải thích mối quan hệ giữa sự sẵn có và mong muốn đối với một sản phẩm, và giá của nó. Quy luật cung cầu là sự điều chỉnh của thị trường với một mức giá cân bằng và một lượng giao dịch cân bằng sẽ được xác định. Thông thường, tính sẵn có thấp và nhu cầu cao sẽ làm tăng giá của một mặt hàng. Ngược lại, tính sẵn có cao và nhu cầu thấp sẽ làm giảm giá của mặt hàng đó. Trong đó:
– Cầu là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng cần mua trong một thời kì nhất định tương ứng với giá cả và thu nhập xác định.
– Cung là khối lượng hàng hóa, dịch vụ hiện có trên thị trường hay có thể đưa ra thị trường trong một thời kì nhất định, tương ứng với mức giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất xác định.

1.1. Phân tích các biến động và hành vi phía Cung
– Mua lại cổ phiếu
Các công ty có thể giảm nguồn cung cổ phiếu thông qua mua lại cổ phiếu của họ theo giá thị trường, thu hồi số cổ phiếu này, làm giảm tổng số cổ phiếu hiện có. Điều này dẫn đến giá cao hơn miễn là nhu cầu không giảm. Các công ty mua lại cổ phiếu vì các lý do sau: Nâng giá trị của số cổ phiếu còn lại bằng cách giảm nguồn cung trên thị trường hoặc để ngăn các cổ đông khác nắm cổ phần kiểm soát.
Trong một số trường hợp các công ty có xu hướng mua lại cổ phần của mình sau một thời gian thành công, khi công ty có nhiều tiền mặt. Việc mua lại cổ phiếu lúc nó đang bị định giá cao có thể khiến công ty nhận được số lượng cổ phần ít hơn so với số tiền bỏ ra và giữ lại số tiền mặt ít hơn điều này có thể khiến công ty gặp khó khăn khi hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng tiêu cực. Việc công ty mua lại cổ phiếu sẽ làm cho số lượng cung cổ phiếu trên thị trường giảm xuống, làm tăng giá cổ phiếu của doanh nghiệp.
– Huỷ niêm yết
Hủy niêm yết thường xảy ra khi một công ty tuyên bố phá sản hoặc chuyển sang chế độ tư nhân, từ đó làm mất nguồn cung của cổ phiếu trên thị trường. Cổ phiếu bị hủy niêm yết thường có giá cực thấp, một số nhà đầu tư sẽ nhân cơ hội để mua vào số cổ phiếu này với mong muốn có cơ hội chuyển mình trong tương lai. Mặc dù cơ hội rất nhỏ nhưng không phải là không có.
– Phát hành cổ phiếu
Nguồn cung cổ phiếu có thể tăng lên nếu công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, phát hành cổ phiếu phụ hoặc phát hành cổ phiếu mới. Các công ty tư nhân được niêm yết công khai trong đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, giúp họ tiếp cận thị trường đại chúng. Các công ty đang gặp khó khăn về tài chính hoặc cần vốn có thể phát hành thêm cổ phiếu. Điều này dẫn đến giá cổ phiếu giảm khi tổng cung cổ phiếu tăng lên.
– Số lượng doanh nghiệp niêm yết trên thị trường:
Từ khởi đầu sơ khai, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam ngày càng gia tăng, hiện lên tới hơn 1.700 doanh nghiệp trên cả 3 sàn HoSE, HNX, UPCoM. Tính riêng sàn HoSE, số lượng doanh nghiệp niêm yết đạt 409, tương ứng hơn 141 tỷ cổ phiếu lưu hành.
Nhóm các Công ty chứng khoán cũng tăng trưởng đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu như thời điểm mới thành lập năm 2000, thị trường chỉ có sự tham gia của 6 CTCK thành viên thì đến nay, số lượng CTCK đã lên tới trên 70, trong đó bao gồm nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài, thậm chí không ít CTCK có quy mô tương đương các ngân hàng tầm trung. Với số lượng doanh nghiệp niêm yết ngày càng tăng thì lượng cung cổ phiếu trên thị trường cũng lớn hơn.

. Phân tích các biến động và hành vi phía Cầu
Nhu cầu về một cổ phiếu có thể thay đổi dựa trên động lực thị trường, điều kiện kinh tế, những thay đổi trong chính sách của ngân hàng trung ương và kết quả kinh doanh tốt hơn mong đợi (hoặc tệ hơn mong đợi).
– Tình hình chính trị, chính sách của chính phủ:
Khi nhà nước có những dấu hiệu chính trị bất ổn sẽ dễ dàng gây hoang mang cho tâm lý nhà đầu tư. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh tế, trên thị trường chứng khoán những biến động bất ổn của chính trị khiến nhà đầu tư khá lo lắng và không dám đầu tư liều lĩnh, nhu cầu mua cổ phiếu giảm xuống, giao dịch mua bán cổ phiếu từ đó cũng ít đi trong khoảng thời gian chính trị bất ổn.
Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý, nhằm kiểm soát lượng cung tiền thông qua việc kiểm soát lãi suất giúp nền kinh tế đạt được sự cân bằng giữa tăng trưởng và lạm phát. Chính sách tiền tệ bao gồm Chính sách tiền tệ mở rộng (giảm lãi suất) và Chính sách tiền tệ thắt chặt (tăng lãi suất). Lãi suất là yếu tố quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đi vay mà các chủ thể trong nền kinh tế hay doanh nghiệp phải gánh chịu. Điều này sẽ tác động trực tiếp đến khả năng tạo ra doanh thu lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong tương lai.
Khi xuất hiện điều chỉnh trong chính sách, nhiều nhà đầu tư không đủ tự tin để tiếp tục rót tiền nên giá cổ phiếu thường có xu hướng giảm, nhu cầu của các nhà đầu tư đối với cổ phiếu cũng giảm xuống.
Một ví dụ điển hình cho sự tác động của chính sách tiền tệ đối với thị trường chứng khoán là vào đầu năm 2008, lúc này giá cổ phiếu lao dốc khiến hàng loạt nhà đầu tư chao đảo. Nguyên nhân chính là do chính sách tiền tệ thắt chặt (tăng lãi suất) của Ngân hàng Nhà nước. Việc áp dụng chính sách này khiến chi phí lãi vay tăng, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn tác động đến nhà đầu tư cá nhân khi lúc này họ sẽ thay đổi cách sử dụng tiền nhàn rỗi từ đầu tư chứng khoán sang gửi tiết kiệm dẫn đến lượng cầu cổ phiếu giảm theo. Nhưng không lâu sau đó, thị trường đã ổn định và tăng trưởng trở lại khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất cơ bản từ 8,5% xuống 7% đi kèm cùng với gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ. Tuy nhiên, sự sụt giảm lại một lần nữa xảy ra vào cuối tháng 11 năm 2009 khi Ngân hàng nhà nước lại tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%. Có thể thấy cầu trên thị trường chứng khoán rất “nhạy cảm” với những thay đổi trong chính sách tiền tệ của Nhà nước.
– Xu hướng kinh tế:
Các xu hướng kinh tế ảnh hưởng đến hiệu suất của thị trường chứng khoán. Chẳng hạn, nó có thể là tỷ lệ thất nghiệp và số liệu GDP. Khi nền kinh tế hoạt động tốt, nhu cầu chứng khoán tăng lên, giá cả tăng vọt. Nhưng khi nền kinh tế suy thoái, nhu cầu giảm, kéo giá cổ phiếu xuống.
Lạm phát cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến cầu cổ phiếu, lạm phát khiến giá hàng hóa leo thang nên để kìm hãm lạm phát thì Ngân hàng Trung ương buộc phải thực hiện Chính sách tiền tệ thắt chặt, việc tăng lãi suất dẫn đến các doanh nghiệp phải chịu chi phí vay cao hơn cũng như giá nguyên liệu đầu vào tăng, làm giảm khả năng mở rộng sản xuất cũng như giảm doanh thu lợi nhuận. Tình hình kinh doanh không đạt như kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu giảm và làm cầu cổ phiếu giảm theo.

Download tài liệu

Liên hệ dịch vụ viết bài:

Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *