Bài tiểu luận mẫu: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CA TRÙ (CỔ ĐẠM – NGHI XUÂN, HÀ TĨNH) Ở TRƯỜNG THPT
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
“Phách ngọt, đàn say, nệm khói êm
Tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
Canh khuya đưa khách…”. Lời gieo ngọc
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm…
Lời thơ “Nghe hát” của Vũ Hoàng Chương gợi sự quyến rũ, thanh tao và độc đáo của Ca trù. Nhịp phách, điệu đàn, tiếng trống chầu hòa quyện với lời ca thiết tha, dìu dặt làm say đắm hồn người. Ca trù là thế thấm sâu, in đậm vào tâm trí, trái tim và nghĩ suy của mỗi con người Việt Nam.
Năm 2009, Ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo về khẩn cấp. Theo công ước UNESCO 2003, các di sản văn hóa phi vật thể của các quốc gia sau khi được đề cử đã đăng kí vào danh sách Di sản đại diện của nhân loại hoặc Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp. Di sản từ danh sách này có thể chuyển sang danh sách khác căn cứ vào hiện trạng, sức sống của di sản. Với lộ trình đó đến giai đoạn 2014 – 2015, Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ đưa loại hình văn hóa phi vật thể này vượt qua ranh giới “cần được bảo vệ khẩn cấp”. Việc bảo tồn, phát huy Di sản Ca trù để đưa loại hình di sản văn hóa phi vật thể này vượt qua ranh giới “cần được bảo vệ khẩn cấp” không hề đươn giản. Trong suốt thời gian qua, với nổ lực của các nghệ nhân, các làng, thôn Ca trù, các CLB, giáo phường, đến nay, Ca trù đã giải quyết được bài toán nan giải đó là không bị rút tên ra khỏi danh mục Di sản thế giới nhưng vẫn là một Di sản rất cần được xã hội quan tâm và vun đắp để vượt qua những kiểm soát gắt gao của UNESCO, để đạt được danh hiệu “Di sản văn hóa phi vật thể dại diện nhân loại” và quan trọng hơn là Ca trù sẽ được sống mãi trong tâm hồn và ăn sâu vào tiềm thức của người Việt.
Đối với nghệ thuật Ca trù Việt Nam nói chung và Cổ Đạm nói riêng. Ngoài những giá trị nổi bật đã được mọi người biết đến và thế giới tôn vinh bởi xã Cổ Đạm (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) được xem là vùng “đất tổ” của nghệ thuật ca trù. Chẳng biết tự bao giờ, ca trù như một phần không thể thiếu trong cuộc đời của họ. Bộ môn nghệ thật ấy đã ngấm vào máu thịt những người con Cổ Đạm, qua bao thế hệ, ca trù vẫn giữ nguyên vẹn vẻ tinh khôi, mộc mạc và làm ngây ngất lòng người.
Nhờ đường lối xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng, các làn điệu ca trù được bảo tồn và phát huy giá trị. Cách đây 30 năm, một cuộc hội thảo về ca trù Cổ Đạm được tổ chức bởi tỉnh Hà Tĩnh và huyện Nghi Xuân. Với sự tham gia đông đảo của các nhà văn hóa, nhà nghiên cứu âm nhạc để bàn về sự “sống còn” của ca trù Cổ Đạm. Sau đó, các Câu lạc bộ ca trù được thành lập để giữ gìn và phát huy nét văn hóa ca trù mà cha ông để lại.
Tuy nhiên, thực tế lại rất phũ phàng, công tác khôi phục lại nghệ thuật ca trù còn gặp muôn vàng trắc trở, khó khăn. Song, với sự cố gắng không ngừng nghỉ của các cán bộ văn hóa và nghệ nhân ca trù, huyện Nghi Xuân đã thành lập được 2 câu lạc bộ ca trù: Nguyễn Công Trứ và Cổ Đạm, với số lượng thành viên dao động từ 30 – 50 người. Gần 30 năm qua, CLB có các cụ tâm huyết: Ông Nguyễn Phùng – Chủ nhiệm CLB, Phan Thị Xuân, Phan Thị Mơn, Hà Thị Bình, Trần Thị Giá, Phan Thị Liêm. Cả 6 cụ đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian. Đến nay, CLB đã có thêm 3 người được Nhà nước phong tặng Nghệ nhân Ưu tú là Dương Thị Xanh, Trần Văn Đài, Trần Thị Gia… Với những thành tích đó, các nghệ nhân ngày càng phấn khởi để cống hiến cho nghệ thuật và tin tưởng vào sự khởi sắc của ca trù.
Ở một số trường THCS, THPT trên địa bàn huyện Nghi Xuân nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung đã đưa ca trù vào tiết học ngoại khóa cho học sinh. Theo ông Bùi Việt Hùng – Phó chủ tịch UBND huyện Nghi Xuân, cho biết:“việc dạy các em học sinh hát ca trù là điều rất quan trọng và cần thiết. Các nghệ nhân đã cao tuổi nên đào tạo lớp ca nương mới, trẻ là sự sống của ca trù. Bởi vậy, huyện Nghi Xuân đã thành lập thêm 1 CLB mới là “CLB ca trù Nguyễn Công Trứ” thu hút nhân tài của các giọng ca trẻ trong toàn huyện hằng năm, và được duy trì hoạt động bởi nguồn kinh phí của huyện”.
Để đưa ca trù trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc đời của họ. Dù ở bất cứ nơi đâu, nhưng những người con sinh ra nơi vùng đất Cổ Đạm đầy nắng gió này vẫn luôn cố gắng để gìn giữ những làn điệu mượt mà, sâu lắng của ca trù. Để ca trù giữ mãi sắc xuân cho người dân Cổ Đạm cần phải có những người có tâm yêu nghề và cảm hiểu về Ca trù. Và hơn thế nữa, Ca trù rất cần mảnh đất mới để gieo trồng những hạt giống tiềm năng đó là thế hệ 9X, 10X trong môi trường Đại học, THPT và THCS.
Vì tất cả những lí do trên, người nghiên cứu chọn đề tài “Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy Ca trù (Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh) trong trường THPT” với mong muốn đề xuất thêm một số giải pháp hữu hiệu đưa ca trù đến gần hơn với thế hệ trẻ góp phần gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này, người viết mong muốn góp phần vào xây dựng chương trình, hoạt động cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy Di sản Ca trù, làm cho Ca trù Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh được phát triển trong môi trường giáo dục phổ thông, từ đó sáng tạo và lưu truyền cho thế hệ sau, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa nghệ thuật dân gian Hà Tĩnh. Từ đó, làm cho nền văn hóa nghệ thuật dân gian nói chung ca trù nói riêng được lưu truyền và phát huy rộng khắp trong và ngoài nước.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài: Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy Ca trù (Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh) ở trường THPT nhằm:
– Tìm hiểu những giá trị nghệ thuật Ca trù Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh qua đó thấy được những nét văn hóa đặc sắc của quê hương Hà Tĩnh.
– Tìm hiểu thực trạng khai thác Ca trù Hà Tĩnh trong hoạt động giáo dục ở trường THPT.
– Đưa ra một số giải pháp bảo tồn và phát huy ca trù để phục vụ có hiệu quả cho hoạt động giảng dạy ở trường THPT.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
– Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
– Đối tượng: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy Ca trù (Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh) ở trường THPT.
– Phạm vi: Hoạt động Ca trù ở Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh và quan tâm đến một số giải pháp để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật Ca trù (Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh) ở trường THPT.
6. Dự kiến đóng góp của đề tài:
– Đề tài là một trong những nguồn tư liệu giúp cho những người muốn tìm hiểu môn nghệ thuật ca trù ở Cổ Đạm- Nghi Xuân – Hà Tĩnh.
– Cung cấp những thông tin về hát ca trù cũng như những hình thức biểu diễn độc đáo ở Hà Tĩnh cho các độc giả.
– Góp phần quảng bá “Di sản văn hóa phi vật thể” ở quê hương Hà Tĩnh.
– Đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nghệ thuật Ca trù – niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, đặc biệt là khai thác trong hoạt động giáo dục.
PHẦN II: NỘI DUNG
1.Vài nét về Ca trù:
1.1. Khái niệm:
Hát Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam hát cùng với một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù là một hình thức “Ca nhạc thính phòng”, thịnh hành từ thế kỉ XV, vốn là một loại ca nhạc cung đình, được sử dụng trong các buổi hát chúc thọ vua chúa và các buổi lễ trong triều đình. Mãi đến nửa thế kỉ XX, Ca trù mới được thế giới biết đến lần đầu tiên qua tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ (1909 – 2001). Qua thời gian, Ca trù dần dần phát triển rộng rãi trong dân gian qua các giới quan lại, đại gia, tầng lớp sĩ phu, nho học giàu sang, được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu tại nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới… và dần trở nên thông dụng. trải qua quá trình phát triển thăng trầm cùng với những biến cố của lịch sử, cho đến nay, Ca trù đã đạt tới trình độ thẩm mĩ cao, khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn của cả nhân loại.
Ngày 01 tháng 10 năm 2009, tại kì họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ công ước UNESCO bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Ca trù đã được công nhận là “Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp”. Đây là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có tầm ảnh hưởng lớn với phạm vi ảnh hưởng tới 16 tỉnh thành, thành phố ở nửa phía Bắc Việt Nam. Hồ sơ đề cử ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
Ca trù khác với các loại hình dân ca khác, nó quy định rất nghiêm ngặt về số câu, số chữ, lời văn, đối ngẫu,…có lẽ vì thế mà Ca trù vẫn được thưởng thức tập trung phần lớn ở tầng lớp có học thức cao rộng trong xã hội xưa.
1.2. Đặc trưng của Ca trù:
– Về âm luật: có năm cung chính là cung Nam, cung Bắc, cung Huỳnh, cung Pha, cung Nao.
– Tiếng hát và cách hát ca trù: Hát Ca trù là hát lên các bài thơ, với yêu cầu diễn
cảm ý thơ, tình thơ rất cao. Cứ mỗi chữ là một hình tròn, tiếng hát công phu, cách hát tài tình lột tả hết mọi cảm hứng và kịch tính trong lời thơ. Vì vậy, tiếng hát ca trù đẹp lung linh, giống như một cái vòng vàng, vòng bạc trạm trổ công phu từng nét một. Hát Ả đào cso hai lối hát: Hát khuôn và hát hàng hoa. Dù là hát khuôn hay hát hàng hoa, người đào nương phải đảm bảo các tiêu chuẩn nghệ thuật dưới đây:
– Hát hay:
+ Quán: ăn nhịp với đàn phách, không chệch choạc.
+ Xuyến: tiếng hát tròn trĩnh, mượt đẹp, vững vàng.
+ Dằn: tiếng hát tròn và đều.
+ Thét: tiếng vút cao như suối vọt lên cao.
+ Khuôn: tiếng tròn phẳng đúng khuôn bật.
+ Rẫy: tiếng hát rền, giòn.
+ Diệu: tiếng bắt tự nhiên, linh hoạt.
+ Vỡi: cao vút, trong sang.
– Hát kém:
+ Lỏi: chệch, sai đàn phách.
+ Ngang: không đúng cung bậc.
+ Cản: sai bằng trắc của chữ trong câu hát.
+ Chặn: hát thấp không lên được.
+ Hụt: hát trước nhịp.
+ Sa: hát sau nhịp.
– Các nhạc khí:
+ Phách
+ Đàn đáy
+ Trống chầu
– Những lối Ca trù:
+ Hát chơi
+ Hát cửa đình
+ Hát thi
1.3. Ca trù – di sản văn hóa đặc sắc:
Ca trù đặc sắc ở sự phong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thức thưởng thức. Ca trù đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó với lễ nghi, phong tục, với sinh hoạt cộng đồng. Loại hình nghệ thuật này làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà,… Và cùng với đó là mối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào – Mối quan hệ quan trọng nhất của lối thưởng thức ca trù. Bởi quá trình tham gia sinh hoạt ca trù là quá trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.
Sau năm 1945, trọn một thời gian khá dài ca trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi. Sinh hoạt ca trù vốn tao nhã và sang trọng trước đây đã bị hiểu lầm đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh. Ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt ca trù ra khỏi đời sống văn hóa. Nhiều nghệ nhân nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình. Khoảng mười năm trở lại đây, dư luận xã hội và các cơ quan thông tấn báo chí đã từng lên tiếng về nguy cơ thất truyền của Ca trù. Nguy cơ mai một dần và vĩnh viễn mất đi Ca trù là một nguy cơ có thực, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn Ca trù như một vốn quý văn hóa của dân tộc, góp phần chấn hưng nghệ thuật và sinh hoạt Ca trù. Trong thời gian gần đây, Ca trù đang thu hút nhiều sự quan tâm, nó đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam ngày 01 tháng 10 năm 2009.
Chính vì những lí do trên, người viết muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về ca trù. Đồng thời với vai trò là một giáo viên cùng với lòng yêu nghề, sự yêu thích ca trù, tôi mong muốn đưa ca trù vào hoạt động giáo dục nhằm góp phần bảo tồn và phát triển Ca trù – một loại hình nghệ thuật độc đáo.
2. Vẻ đẹp Ca trù Cổ Đạm:
2.1. Vài nét về sự ra đời và phát triển Ca trù Cổ Đạm:
Ca trù Cổ Đạm sinh ra từ dân gian phát triển đi vào cung đình, trở thành một lối chơi phong lưu, tao nhã. Trải qua biết bao thăng trầm, biến cố nhưng ở vùng đất văn nhân Nghi Xuân vẫn trường tồn những làn điệu ca trù tuyệt đỉnh. “Những ngày mở hội ca trù, tế tổ đào nương, giai nhân tài tử các nơi đua nhau về Cổ Đạm thi tiếng đàn, tiếng hát, cảnh tưng bừng, nhộn nhịp không thua kém gì ở Thăng Long”. Ca trù ra đời gắn với giai thoại đẹp. Viên quan châu ở đây tên là Bạch Đình Sa có nàng con gái tên gọi Bạch Hoa, tuổi đã tròn đôi muơi mà chưa biết nói. Khi nghe tiếng đàn Đinh Lễ, cô gái đang ăn cơm liền lấy đũa gõ vào mâm theo nhịp tiếng đàn. Quan châu cho mời Đinh Lễ vào nhà đàn hát và khi dứt tiếng đàn, Bạch Hoa cất lên được tiếng nói. Cho là duyên kỳ ngộ, Bạch Đình Sa tác hợp cho hai người nên đôi lứa.“Đất tổ” của ca trù được cho là xuất phát ở xã Cổ Đạm (Nghi Xuân). Ca trù phát xuất từ những điệu hát mà nhạc đệm là cây đàn đáy thần kì của chàng trai Đinh Lễ. Đinh Lễ đưa Bạch Hoa về Cổ Đạm dạy đàn hát cho trai gái trong vùng. Từ đó đất này thịnh hành lối hát gọi là ca trù. Về sau cả hai đều không bệnh về trời. Dân Cổ Đạm lập đền thờ, phong làm tổ sư của ca trù.
Bắt nguồn từ Cổ Đạm, ca trù lưu truyền khắp nơi, hiện nay đang lưu hành ở 15 tỉnh thành trên cả nước. Ở Cổ Đạm, ca trù có những nét riêng khác biệt khó lẫn với những vùng, miền khác như: hát nhanh và đanh hơn; tiết tấu rõ hơn và không luyến láy; ngưng nghỉ nhiều, cách lấy hơi nhàn nhã, thư thái hơn; phần đệm đàn, phách cũng có sự khác biệt, phách ca trù Cổ Đạm đánh gọn, giòn, ngắn gọn hơn xứ Bắc.
Vào thế kỷ XVII, ca trù rất thịnh hành và đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, với sự đóng góp to lớn của Nguyễn Công Trứ, ca trù ở Nghi Xuân trở nên nổi tiếng trong thiên hạ. Tuy nhiên, đến thời Pháp thuộc, ca trù chìm lắng dần.
Những năm cuối thập niên 90, với chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cùng với các địa phương khác trên cả nước có ca trù, năm 1998, Hà Tĩnh đã tổ chức hội thảo về ca trù và cũng bắt đầu từ đây ca trù Cổ Đạm được khôi phục và bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Ngày 01/10/2009, UNESCO công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Những năm tiếp theo, được nhiều ban, ngành quan tâm khôi phục, ca trù dần có được hơi thở và sức sống mới.
2.2. Quá trình gìn giữ và phát huy Ca trù Cổ Đạm:
Người gắn bó lâu đời với Ca trù Trần Thị Cảnh hiện là Phó giám đốc Trung tâm văn hóa huyện Nghi Xuân chia sẻ: Trên địa bàn huyện chỉ còn 2 CLB Ca trù ở đền thờ Nguyễn Công Trứ và xã Cổ Đạm. “Cái tâm của những người tham gia CLB Ca trù Nguyễn Công Trứ và Cổ Đạm là mong muốn lưu truyền, phát triển môn nghệ thuật này. Họ đã miệt mài không quản khó khăn để bảo tồn và phát huy nó. Trước đây, phong trào hát ca trù đã có thời nở rộ, dao động từ 40 đến 70 người, chúng tôi đã sưu tầm, phục dựng được 21 làn điệu, phổ biến rộng rãi được 10 làn điệu ca trù và đạt được rất nhiều giải trong các kỳ liên hoan từ trung ương đến địa phương”.
Niềm đam mê cháy bỏng cộng với sự tiếc nuối về một loại di sản vô giá thôi thúc các thành viên CLB vẫn ngày đêm đàn hát dù chế độ của các ca nương, kép đàn khi tham gia sinh hoạt ở 2 CLB nói trên chưa nhiều, chỉ có 3 ca nương, kép đàn được hợp đồng vừa dạy, vừa biểu diễn ở di tích Nguyễn Công Trứ mỗi tháng được nhận số tiền ít ỏi 1.150.000 nghìn đồng. Thời gian qua, huyện Nghi Xuân đã nỗ lực trao, truyền, đào tạo hát ca trù cho giới trẻ, trường học, xây dựng ca trù trong tour du lịch trải nghiệm nông thôn mới… Tất cả những điều này đã góp phần làm “sống dậy” niềm yêu thích ca trù cho thế hệ hôm nay và mai sau. UBND huyện Nghi Xuân đã từng xây dựng đề án bảo tồn và phát huy ca trù nhưng đề án chưa đi đến đích. Hiện nay, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đang hoàn thiện đề án để xin ý kiến của UBND tỉnh.
Tuy nhiên, để ca trù thoát khỏi tình trạng phải bảo vệ khẩn cấp như hát xoan ở Phú Thọ thì cần phải có sự chung tay của cả cộng đồng. Nên chăng 15 tỉnh, thành trên cả nước có ca trù kết nối với nhau xây dựng một chương trình hành động và quyết tâm đưa ca trù thoát khỏi danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
3. Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy Ca trù (Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh) ở trường THPT.
Thực hiện tốt nhiệm vụ về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Ca trù, Truyện Kiều, Mộc Bản trường học Phúc Giang và Hoàng Hoa sứ trình đồ, giai đoạn 1918 – 2025 và những năm tiếp theo của Nghị quyết số 93/2018/NQ – HĐND Hà Tĩnh, ngày 18 tháng 07 năm 2018 đã đặt mục tiêu cụ thể: Đối với Ca trù duy trì và tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động của Câu lạc bộ Ca trù Cổ Đạm và Câu lạc bộ Ca trù Nguyễn Công Trứ. Thành lập mới từ 02 – 05 câu lạc bộ Ca trù ở các huyện, thành phố, thị xã, mỗi năm đào tạo ít nhất 05 ca nương, kép đàn ca trù. Định kỳ tổ chức Liên hoa Ca trù tại huyện Nghi Xuân và tham gia đầy đủ liên hoan Ca Trù toàn quốc. Huyện cũng đã duy trì và phát triển phong trào đưa dân ca vào trường học. Nhiều ca nương trẻ của Nghi Xuân đã thay thế những ca nương khuất núi và tiếp tục trao truyền di sản cho hậu sinh như: Dương Thị Nết, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Vân… Các ca nương lên sân khấu hiện nay đều dưới 55 tuổi. “Tre già măng mọc”, nhiều gương mặt trẻ đã thành công trong các kỳ liên hoan toàn quốc như Thu Hà 16 tuổi, Quỳnh Như 12 tuổi…Để thực hiện có hiệu quả tinh thần Nghị quyết, việc tìm kiếm và bồi dưỡng đội ngũ ca nương trẻ không chuyên triển vọng trong nhà trường THPT trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là rất cần thiết. Vì thế, người viết mạnh dạn đề ra những giải pháp cơ bản nhằm góp phần bảo tồn và phát huy Ca trù Cổ Đạm ở trường THPT tạo nguồn lực chăm bồi để duy trì loại hình nghệ thuật đặc sắc này.
3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung, của nghệ thuật Ca trù nói riêng ở trường THPT.
Để bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể nói chung và ca trù nói riêng, đầu tiên phải kể đến vị trí tiên phong của cấp ủy và chính quyền địa phương cùng cơ quan quản lí các cấp trong việc định hướng, chỉ đạo thực hiện các biện pháp giữ gìn, phát huy nghệ thuật Ca trù. Nhà trường quảng bá nghệ thuật ca trù đến với giáo viên, học sinh và phụ huynh thông qua các hình thức thu hút như: giao lưu các nghệ nhân, xem biểu diễn ca trù, tổ chức các cuộc thi ca trù cấp trường,…Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của người dân địa phương về lĩnh vực bảo tồn giá trị văn hóa cũng rất cần thiết góp phần nêu cao tính tự nguyện, tự giác của cộng đồng nhằm phát huy tối đa giá trị của loại hình nghệ thuật ca trù.
3.2. Giới thiệu loại hình Ca trù ở môn học Ngữ Văn trong nhà trường THPT.
Trong chương trình 11 môn Ngữ Văn có bài hát nói “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ. Giáo viên bộ môn khi giảng dạy tác phẩm này, để cho học sinh có thể hiểu sâu sắc và cảm được đặc sắc về nghệ thuật và nội dung của bài thì nhấn mạnh một số nội dung sau:
Thuở ấy, cậu Củng (tên khai sinh của Nguyễn Công Trứ) là người nổi bật nhất trong đám văn nhân tài tử xa gần tìm đến giáo phường. Bởi, cậu không chỉ là người thưởng thức mà còn là một kép đàn điệu nghệ, lại là người dày công dạy dỗ, tập luyện cho đào nương và kép đàn của giáo phường thành những nghệ nhân tài hoa.
Có thể thấy, hát nói là một bộ phận hợp thành quan trọng của di sản văn học Nguyễn Công Trứ, hơn thế, chất hát nói đã trở thành máu thịt trong phong cách sáng tác của ông. Nguyễn Viết Ngoạn đã gọi ông là “Ông hoàng hát nói”. Nói cách khác, đó chính là ở cái cách ông dùng hát nói để thể hiện mình. Dĩ nhiên, hát nói không phải là tất cả những gì giá trị của văn nghiệp Nguyễn Công Trứ, nhưng chính mảng sáng tác này có 9 một vai trò quan trọng trong việc tạo nên những dấu ấn đậm nét của hiện tượng văn học đặc sắc Nguyễn Công Trứ.
Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nhờ sự chuyển mình, trở thành một thể loại văn học trong các sáng tác của Nguyễn Công Trứ mà hát nói đã trở thành một thành tố chủ yếu, có thể đại diện cho loại hình nghệ thuật ca trù. Như Tiến sỹ Nguyễn Viết Ngoạn từng nhận xét: “Hát nói đến và nhờ Nguyễn Công Trứ đã làm cho thi ca nước Việt thời phong kiến như có một cuộc cách mạng tâm hồn thật sự”. Còn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thì nhận xét: “Có Nguyễn Công Trứ, cây đàn văn học Việt Nam có đủ dây vũ dây văn, mà ông chính là sợi dây vũ cường tráng luôn luôn rung lên những âm sắc nam nhi sảng khoái làm phong phú cung đàn văn chương đất nước”. Bằng cách nhắc đi nhắc lại nhiều lần về một khát vọng sống, Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một triết lý sống nhập thế đầy tích cực ở trong thơ của mình. Những bài thơ ấy cũng đã khiến cho kho tàng ca trù thêm phong phú và sinh động.
Thành tựu sáng tác của Nguyễn Công Trứ gồm 63 bài hát nói còn sao lục được của Nguyễn Công Trứ có rất nhiều bài đã được các CLB ca trù dàn dựng, biểu diễn phổ biến. Trong đó, nổi bật nhất và được nhiều địa phương hát nhất là: Chí làm trai, Vịnh Tỳ bà hành, Bài ca ngất ngưởng, Yêu hoa, Sầu tình, Duyên gặp gỡ, Một ngày nên nghĩa… Sự tài tình và biến hóa trong sử dụng ngôn ngữ của ông đã góp phần tô đậm hơn tính uyên bác, đài các nhưng vẫn rất bình dị, khiêm nhường, bình dân của ca trù.
Trong tiết học, giáo viên cho học sinh xem thêm tranh ảnh về: Chân dung tác giả, sinh hoạt ca trù ở đền Nguyễn Công Trứ, những bài hát nói của Nguyễn Công Trứ được đoàn Hà Tĩnh biểu diễn tại liên hoan Ca trù toàn quốc 2018,… Ngoài ra, người dạy cho học sinh nghe băng đĩa về những bài hát trong hội diễn ca trù ở Hà Tĩnh, những bài hát đã đạt giải của các ca nương trẻ tuổi (em Nguyễn Thị Thu Hà, học sinh lớp 11A2, trường THPT Nguyễn Công Trứ).
Những thông tin cần thiết và bổ ích về tác giả, thể hát nói, quá trình giữ gìn, phát huy ca trù ở trường THPT, ở Cổ Đạm sẽ là những trực quan sinh động không chỉ giúp học sinh cảm nhận sâu sắc tác phẩm mà còn góp phần giúp học sinh nhận thức về nghệ thuật ca trù, từ đó có ý thức bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc.
3. 3. Dạy hát Ca trù cho học sinh trong trường THPT.
Để thực hiện được tốt việc dạy hát Ca trù cho học sinh cần thực hiện qua các bước sau.
3.3.1. Công tác chuẩn bị.
Tổ chức sưu tầm một số bài hát ca trù trên lời thơ hay, đơn giản dễ nhớ như: Hồng hồng tuyết tuyết, Hồn quê gợi nhớ, Tìm về nguồn cội… Thông qua các hoạt động tìm hiểu, sưu tầm và ghi chép lại hoặc tìm hiểu qua tài liệu sách báo, băng đĩa…. Làm tư liệu học tập cho lớp học.
Phân loại và lựa chọn những bài hát ca trù phù hợp với lứa tuổi học sinh để dạy hát.
3.3.2. Tổ chức dạy hát
a. Xác định mục tiêu:
Học sinh học hát nói chung và học hát ca trù nói riêng là tiếp xúc với loại hình nghệ thuật đặc biệt. Mỗi bài hát, làn điệu được đệm bởi âm điệu da diết, nhẹ nhàng, nội dung ngợi ca quê hương, đất nước, con người Việt Nam.
Mục tiêu về kiến thức: Học xong mỗi bài hát, Ca trù giúp học sinh thêm hiểu biết về đời sống tinh thần cũng như cuộc sống, lao động sinh hoạt của ông cha ngày trước; Giúp nâng cao khả năng nhận thức và hiểu biết của các em phát triển năng lực ngôn ngữ, lời ca của bài hát làm vốn ngôn ngữ của học sinh trở nên phong phú và sinh động hơn.
Mục tiêu về kĩ năng: Dạy hát ca trù nhằm phát triển năng lực âm nhạc của học sinh, giúp các em hát được, hát đúng với đàn, nhịp phách và trống chầu, biết cách hát quán, hát dằn tiến đến hát khuôn, hát diệu. Dạy hát ca trù còn giúp học sinh biết tránh hát lỏi, hát sa…
Mục tiêu về tình cảm và thái độ: Đây là cơ hội đáng quý để học sinh được tiếp cận với vốn kiến thức quý báu về văn hóa dân tộc. Mỗi học sinh được thụ hưởng giá trị âm nhạc truyền thống góp phần bồi dưỡng tình yêu vốn âm nhạc cổ truyền của dân tộc mình, có khả năng tham gia ca hát ở trong và ngoài trường học.
b. Quy trình dạy học hát:
Sau khi đã sưu tầm và phân loại, lựa chọn các bài hát đơn giản và phù hợp với lứa tuổi học sinh thì tổ chức dạy hát theo quy trình như sau:
Bước 1: Giới thiệu bài hát: Trong phần giới thiệu bài hát này, một yêu cầu bắt buộc là người dạy phải giới thiệu và giải thích được cho học sinh về bài hát và xuất xứ của bài hát mà các em đang học để các em có được những hiểu biết về thể loại và xuất xứ của nó trong lao động, sinh hoạt văn hóa và đời sống tình cảm của dân tộc mình.
Cũng có thể giới thiệu bài hát bằng các phương tiện trực quan như xem tranh ảnh, xem băng hình diễn tả hoạt động hát và nội dung bài hát.
Bước 2: Nghe hát mẫu:
Giáo viên có thể thực hiện với các hình thức như sau:
+ Giáo viên dạy lí thuyết cho học sinh biết cơ bản về âm luật, tiếng hát và cách hát ca trù. (có tài liệu đính kèm)
+ Giáo viên trình bày trên nền nhạc khí bài hát mà các em sắp được học.
+ Dùng băng đĩa nhạc hoặc phần ghi âm các nghệ nhân hát đã sưu tầm được để cho học sinh nghe bài hát và tập hát theo.
Bước 3: Khởi động giọng:
Trước khi học hát nên cho học sinh khởi động giọng bằng cách đọc thang âm để các em biết được sơ lược cách hát một bài ca trù.
Bước 4. Dạy hát:
Lớp học thường tập trung những em thật sự yêu thích và mong muốn học tập nên giáo viên dễ quan sát, giúp đỡ tận tình từng đối tượng học sinh.
Đây là một môn nghệ thuật khó nên giáo viên cần phải hát mẫu nhiều hơn để giúp học sinh hát đúng những chỗ khó, cũng như thể hiện sắc thái đặc trưng của bài ca trù.
Để thực hiện dạy hát chúng ta nên tiến hành theo các bước như sau:
– Phân chia bài hát ra thành từng câu ngắn, từng phân đoạn để các em có thể bắt nhịp kịp khi tập. Sau khi hát mẫu xong kết hợp với phần đệm đàn giáo viên cho các em nhắc lại câu hát. Dạy hát từng câu nối tiếp nhau sau đó ghép lại từng đoạn và cả bài.
– Hầu như tất cả các câu hát cần sự tròn chữ, luyến, diễn cảm ý thơ, tình thơ. Bởi vậy,các em phải dành nhiều thời gian tập luyện hơn. Sau khi giáo viên hát mẫu xong, có thể cho một số em hát tốt hát lại, nếu có chỗ chưa đúng thì sửa luôn để cả lớp cùng nghe và nhận biết.
– Khi dạy hát, để nghe các em hát như thế nào và sửa sai giáo viên không hát cùng với học sinh. Lúc các em tái hiện lại câu hát thì tôi chú ý lắng nghe để sửa sai và nhắc nhở các em.
– Lúc đầu dạy hát để học sinh hát thuộc và đúng. Sau đó, trong quá trình tập luyện giáo viên cần luôn nhắc nhở các em thể hiện sắc thái, tình cảm của bài hát, tiến đến hát hay.
Bước 5. Luyện tập, củng cố, kiểm tra:
Sau khi đã học bài hát tôi cho các em củng cố, ôn luyện bài hát vừa được học. điều này không chỉ giúp cho học sinh nhanh thuộc bài, hát chính xác mà còn nâng cao kỹ năng thể hiện tình cảm, sắc thái của bài. Phần củng cố, luyện tập được lặp đi lặp lại nhiều càng giúp học sinh cảm thụ, hiểu được cái hay của bài hát, làn điệu ca trù mà các em đang hát.
4. 4. Thành lập các câu lạc bộ Ca trù trong nhà trường THPT
4.4.1. Mục đích:
– Giúp học sinh có thêm những hiểu biết sâu hơn về nguồn gốc, làn điệu, xuất xứ các bài hát ca trù Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh.
– Rèn luyện kỹ năng hát, biểu diễn và có thể tham gia hoạt động văn nghệ giới thiệu về ca trù trong nhà trường, ở địa phương.
– Từ đó giúp các em góp phần hình thành tình cảm yêu mến, quý trọng vốn ca trù của dân tộc mình, đồng thời có trách nhiệm gìn giữ và phát huy.
4.4.2. Công tác tổ chức:
Tham mưu với Hiệu trưởng phân công giáo viên âm nhạc và phụ trách văn nghệ của nhà trường phụ trách câu lạc bộ trong đó giáo viên âm nhạc đóng vai trò chủ chốt.
+ Xây dựng kế hoạch hoạt động thường kỳ, thường xuyên của câu lạc bộ.
+ Xây dựng nội quy của câu lạc bộ.
+ Xây dựng lực lượng nòng cốt, tuyển chọn các thành viên cho câu lạc bộ: bằng cách các giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn giới thiệu, đề xuất các bạn có năng khiếu ca hát, yêu thích ca trù tham gia với số lượng từ 05 đến 10 học sinh.
+ Chuẩn bị phòng học nhạc, nhạc cụ, tài liệu giới thiệu… dùng cho các buổi sinh hoạt.
4.4.3. Hình thức sinh hoạt:
– Thông qua các buổi sinh hoạt tập hát.
– Nghe kể chuyện về nguồn gốc ra đời ca trù Cổ Đạm.
– Tổ chức trò chơi Âm nhạc.
– Xem biểu diễn qua băng đĩa nhạc.
– Các thành viên của Câu lạc bộ sau khi đã biết cách hát, bài hát quen thuộc có thể biểu diễn cho các bạn trong lớp, trường qua các buổi sinh hoạt, giao lưu văn nghệ của lớp…
4.4.4 Thời gian sinh hoạt: Sinh hoạt 1 tuần một lần vào buổi chiều thứ bảy.
5. 5. Giao lưu với các nghệ nhân ca trù.
5.5.1. Mục đích:
– Đây là dịp để các em học sinh được tìm hiểu nhiều hơn, sâu hơn về nghệ thuật ca trù.
– Là một hoạt động ngoại khóa Âm nhạc tạo nên không khí vui vẻ, phấn khởi cho các em học sinh.
5.5.2. Hình thức:
– Nghe nghệ nhân kể chuyện về lịch sử ca trù và biểu diễn ca trù.
– Nghệ nhân trả lời câu hỏi và giao lưu cùng với học sinh.
– Tổ chức các câu đố vui, trò chơi Âm nhạc …
5. 5. 3. Để tổ chức thành công buổi giao lưu nói chuyện, cần lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng:
– Thời gian, Địa điểm, Thành phần, Khách mời…
– Chuẩn bị về cơ sở vật chất, loa máy, các tiết mục biểu diễn, trang trí … đặc biệt quan trọng nhất là chuẩn bị về khách mời: Nghệ nhân đại diện các câu lạc bộ ca trù ở địa bàn nơi cư trú.
– Người sẽ nói chuyện và giao lưu cùng học sinh.
5.5. 4. Tiến trình thực hiện: Có thể thực hiện chương trình giao lưu như sau:
Bước 1: Ổn định tổ chức
Bước 2: Khai mạc, giới thiệu đại biểu, khách mời.
Bước 3: Văn nghệ 1 đến 2 tiết mục ca trù do học sinh các nhóm dân tộc nhà trường thể hiện.
Bước 4: Giao lưu nói chuyện giữa nghệ nhân và học sinh.
Bước 5: Tổ chức trò chơi, câu đố về ca trù nói chung và ca trù Cổ Đạm nói riêng.
Bước 6: Biểu diễn nghệ nhân, đội văn nghệ của trường và học sinh.
6. 6. Tổ chức hội thi hát Ca trù.
6.6.1. Mục đích, ý nghĩa:
– Tạo không khí vui vẻ, sôi nổi trong nhà trường.
– Giúp học sinh biết được nhiều bài hát ca trù trong nhà trường thông qua biểu diễn và xem biểu diễn trong hội thi.
– Thông qua hội thi có thể phát hiện thêm các em học sinh có năng khiếu về Ca trù để có kế hoạch bồi dưỡng tập luyện.
6.6.2. Hình thức tổ chức: Sân khấu hóa, mỗi lớp tham gia thi biểu diễn 2 tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc (bắt buộc phải có 1 tiết mục Ca trù).
6.6.3. Chuẩn bị:
– Làm thể lệ hội thi.
– Thành lập ban tổ chức, ban giám khảo.
– Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vất chất như: Sân khấu, âm thanh, nhạc cụ…
6.6.4. Tổ chức hội thi.
Sau khi đã xây dựng và triển khai kế hoạch, chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất cho hội thi thì Phụ trách hoạt động văn nghệ nhà trường điều hành, phối hợp cùng các thành viên Ban tổ chức, Ban giám khảo tổ chức hội thi.
4. Kết quả thu được của đề tài.
Qua vận dụng các giải pháp hoạt động của đề tài đã cho kết quả như sau:
– Tỉ lệ học sinh hiểu, yêu thích và biết hát Ca trù nhiều hơn.
– Học sinh có hứng thú hơn khi tham gia học hát và tìm hiểu các bài hát Ca trù trong nhà trường.
Các em học sinh đã biết tự hào hơn khi được tham gia biểu diễn các bài hát ca trù trước công chúng, từ đó giúp các em thêm tin yêu và có trách nhiệm giữ gìn vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Quá trình khảo sát học sinh tiếp nhận ca trù:
Năm học Lớp Số học sinh Yêu thích ca trù Hát được ca trù
2017 – 2018 11A2 42 25 2
11A342283
2018 – 2019 11A2 42 30 3
11A342324
Ngay trong ngôi trường THPT Nguyễn Công Trứ đã có ca nương chỉ mới 17 tuổi, Nguyễn Thị Thu Hà ở thôn 4, xã Xuân Hồng, Nghi Xuân – Hà Tĩnh, hiện đang học lớp 11A2 – Trường THPT Nguyễn Công Trứ, Nghi Xuân. Ở Hà có niềm đam mê, năng khiếu thiên bẩm và quá trình khổ luyện kéo dài nhiều năm đối với bộ môn nghệ thuật ca trù. Em ấy đã gặt hái được những thành tích xuất sắc: năm 2011, đạt giải nhất trong cuộc thi ca trù toàn quốc lần thứ 2 do Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại Hà Nội khi thể hiện hai bài hát “Đào hồng, Đào tuyết”, “Tứ quý yên lung”, năm 2014, 2016 đạt giải nhất “Đào nương triển vọng” trong lien hoa ca trù toàn quốc. Một lần nữa Thu Hà đã thành công tại Liên Hoan Ca trù toàn quốc năm 2018 được tổ chức tại Hà Tĩnh với tiết mục “Tỳ Bà Hành” đạt giải nhất “Đào nương triển vọng”. Với ước mơ thi đỗ vào Trường đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội và trở thành nghệ nhân ca trù, Thu Hà đang tập trung thời gian và công sức cho việc học. Ngoài ra, Hà còn là một thành viên sẽ truyền lửa cho phong trào yêu hát ca trù ở Trường THPT Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Thị Thu Hà không chỉ là niềm tự hào của gia đình, thầy cô, nhà trường mà còn là niềm nâng niu trân trọng của nghệ thuật ca trù, di sản văn hóa phi vật thể đang được bảo tồn ở vùng đất núi Hồng – sông La.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận.
“ Miền Nghệ Tĩnh phong lưu đệ nhất/ Có nơi đâu hơn đất giáo phường…”. Câu ca xưa ấm lòng người yêu mảnh đất có chân núi Hồng Lĩnh, Khe Quan Sơn, có những cánh đồng, những cồn cát, những lạch nước ngọt ngào của bốn mùa cây trái thơm hương. Cổ Đạm là một trong những cái nôi của Ca trù. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, Ca trù vẫn có sức sống bền chặt trong lòng mỗi người dân Việt Nam, ca trù là nhịp cầu thời gian để ta trở về với cội nguồn của ông cha, dân tộc.
Trong xu thế phát triển hiện nay của xã hội, nhiều giá trị văn hoá truyền thống đang có nguy cơ bị mặt trái của cơ chế thị trường làm mai một, nhất là các văn hóa truyền thống trong đó có ca trù, thì việc giáo dục cho học sinh biết phát huy và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là việc làm cần thiết. Gìn giữ và phát triển các bài hát ca trù ở trường THPT là việc làm có ý nghĩa sâu sắc nhằm phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc và góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc Việt Nam. Điều đó, đòi hỏi sự quan tâm từ các ngành, các cấp liên quan và toàn xã hội. Để khẳng định và vinh danh “Ca trù không chỉ là nét văn hóa nghìn đời của người Việt mà còn được biết đến trên diễn đàn âm nhạc thế giới, là niềm vinh dự, tự hào của đất nước ta”.
Để cho công tác giáo dục về truyền thống văn hóa các dân tộc trong trường THPT, giúp các em học sinh trong nhà trường biết giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của cha ông được hiệu quả, đặc biệt đối với địa bàn xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân cần có sự quan tâm đúng mức từ các nhà trường và các thầy giáo, cô giáo, cũng như các nhà quản lý giáo dục.
2. Khuyến nghị khả năng áp dụng.
Qua một vài kinh nghiệm mà tôi đã rút ra được trong sáng kiến nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa cho học sinh THPT nói chung và THPT Nguyễn Công Trứ nói riêng. Sau khi áp dụng SKKN vào thực tế tại đơn vị đã cho thấy khả năng áp dụng đạt hiệu quả cao, đặc biệt là học sinh trong nhà trường đã biết tự hào và qúy trọng truyền thống văn hóa của cha ông mình trong sinh hoạt và học tập hàng ngày, các em đã biết hát nhiều những bài hát Ca trù, số lượng học sinh tham gia học hát và tham gia câu lạc bộ ngày càng đông hơn. Tôi hi vọng rằng cùng với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, các hoạt động giáo dục và giới thiệu về truyền thống văn hóa dân tộc sẽ thu hút được ngày càng nhiều các em học sinh tự giác tham gia đồng thời các giải pháp trong sáng kiến có thể áp dụng trong phạm vi toàn ngành.
Trên đây là một vài suy nghĩ của tôi về việc “Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy Ca trù (Cổ Đạm – Nghi Xuân – Hà Tĩnh) trong trường THPT”. Với khả năng còn hạn chế và chắc chắn rằng đó vẫn chưa phải là khuôn mẫu hoàn chỉnh vì vậy kính mong quý đồng nghiệp đóng góp ý kiến để cùng nhau tìm ra một phương pháp tối ưu hơn nữa để việc tổ chức giáo dục văn hóa dân tộc trong trường THPT mang lại nhiều ý nghĩa và hiệu quả thiết thực trong những năm tiếp theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hữu Ngọc, Những nẻo đường văn hóa, NXB Giáo dục, năm 2005.
2. Nguyễn Ban, Hát Ca trù Cổ Đạm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 172, năm 1998.
3. Nguyễn Xuân Diên, Lịch sử và nghệ thuật Ca trù, NXB Thế giới, 2007.
4. Nguyễn Xuân Kính, Người Việt trong dòng lịch sử văn hóa, NXB Khoa học xã hội, năm 2018.
5. Nguyễn Quốc Hùng, Bảo vệ văn hóa phi vật thể, khái niệm và nhận thức, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, năm 2001.
6. Nhiều tác giả: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, Viện văn hóa – thông tin, 2005.
7. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Văn học, 2019.
8. Sở văn hóa Hà Tĩnh, kỷ yếu hội thảo “Ca trù Cổ Đạm”, năm 1999.
9. Vũ Ngọc Khánh, Ba trăm năm lẻ, NXB Văn hóa, 1988.
Xem thêm: Tham khảo 30000 đề tài miễn phí tại Luận Văn Group.
Liên hệ dịch vụ viết thuê tiểu luận:
Hotline: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang
Email: Lamluanvan123@gmail.com
Website: https://lamluanvan.net/

Chào các bạn! Mình làm công việc quản trị nội dung của trung tâm Luận Văn Group. Công việc này đã gắn bó với mình được hơn 10 năm, mình tốt nghiệp trường Kinh Tế Quốc Dân, có sở thích là viết các đề tài nghiên cứu và viết luận, các bạn muốn sử dụng dịch vụ bên mình vui lòng liên hệ qua website: https://lamluanvan.net/. Rất mong được sự ủng hộ của các bạn!



Bài viết liên quan
COVID-19 VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU (VLTL)
Đề tài tiểu luận COVID-19 VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU (VLTL) I. ĐẶC ĐIỂM...
Th8
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC – CỤC THUẾ CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 2 PHẦN 1: NỘI DUNG TÌNH HUỐNG 5 1. Hoàn...
Th7
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn...
Th7
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm non hiện nay
MỤC LỤC I. GIỚI THIỆU 1 II. NỘI DUNG CHÍNH 3 2.1. Phân tích quan...
Th7
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LỤC NGẠN SỐ 3, HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1. THỐNG NHẤT GIỮA...
Th7
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Tiêu đề: Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc...
Th7