Đối chiếu Anh – Việt về mạch lạc trong thư tín thương mại phàn nàn

5/5 - (1 bình chọn)
Tên đề tài: Đối chiếu Anh – Việt về mạch lạc trong thư tín thương mại phàn nàn
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
1. Đặt vấn đề
Nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và cấu tạo văn bản ở Việt Nam gần đây có sự nở rộ dưới nhiều góc độ khác nhau. Các hành động ngôn từ khác nhau như xin lỗi, cảm ơn, yêu cầu, đề nghị, lời mời, lời hứa… đã được tập trung nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, hiện nay hành vi phàn nàn chưa được tập trung làm rõ tại các nghiên cứu thuộc nhóm này. 
Bên cạnh đó, hàng ngày trong lĩnh vực giao dịch kinh doanh thương mại, ngoài việc tiếp xúc để trao đổi trực tiếp trong các cuộc gặp gỡ, các cuộc họp, các cuộc hội thảo…, việc trao đổi bằng các văn bản, giấy tờ, công văn, và đặc biệt là thư tín thương mại là vô cùng cần thiết. Viết như thế nào để diễn đạt được tất cả những gì mình muốn nói nhưng trong một khuôn khổ cho phép là một vấn đề tương đối khó đòi hỏi người viết vừa đảm bảo tính học thuật, vừa phải đảm bảo tính văn hoá. Trong thư tín thương mại, các trường hợp thư hỏi hàng, chào hàng, yêu cầu, đề nghị, báo giá… đã được nghiên cứu nhiều; tuy nhiên, thư phàn nàn thì chưa được nghiên cứu nhiều, và đặc biệt là ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về thư phàn nàn. Đây chính là lí do đầu tiên thôi thúc tôi muốn đi sâu làm rõ vấn đề này.
Thư phàn nàn được coi là văn bản ngôn ngữ có sức ảnh hưởng và chi phối lớn đến hiệu quả kinh tế của các hoạt động kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, ngôn từ và cấu trúc ngữ pháp cũng như những quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận lớn hơn câu được sử dụng trong văn bản thư phàn nàn không đủ tường minh và mạch lạc để người tiếp thu văn bản này hiểu đúng để thực hiện. Để tránh những sai sót về diễn ngôn trong soạn thảo và biên dịch thể loại văn bản này cũng như nâng cao hiệu quả công việc kinh doanh cho các cá nhân và các tổ chức kinh tế tại Việt Nam, chúng tôi thấy rằng cần phải có những nghiên cứu khoa học để đưa ra những giải pháp hợp lý cho vấn đề này. 
Mạch lạc là một yêu cầu không thể thiếu đối với tất cả các thể loại văn bản. Trong văn nói cũng như văn viết, nếu nội dung giao tiếp không được trình bày mạch lạc thì hiệu quả giao tiếp sẽ không cao, thậm chí có thể gây ra hiểu sai, hiểu lầm. Tuy nhiên, mạch lạc không phải là một vấn đề dễ nắm bắt. Do tính mơ hồ và phức tạp của đối tượng nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này. Một văn bản muốn đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất phải có mạch lạc. Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong đó nổi bật nhất là việc tạo thành tính thống nhất chủ đề của văn bản.
Từ những lí do trên, luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống về đề tài “Đối chiếu Anh – Việt về mạch lạc trong thư tín thương mại phàn nàn” nhằm góp phần khẳng định tầm quan trọng của mạch lạc trong các loại văn bản nói chung và trong thư tín thương mại tiếng Anh phàn nàn nói riêng. Trong đó, luận án chú trọng đến những đặc trưng văn hoá, ngôn ngữ của cách viết thư phàn nàn trong tiếng Anh; từ đó có sự liên hệ, so sánh với cách viết thư phàn nàn trong tiếng Việt.
2. Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ học văn bản phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, tiêu biểu như công trình của W. Dressler (1970), P. Hartmann (1972), G. Kassai (1976), M.A.K. Halliday & Hassan (1976), M. Coulthard (1977). Sau đó, ở Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này của các tác giả như Nguyễn Trọng Báu – Nguyễn Quang Ninh – Trần Ngọc Thêm (1985), Trần Ngọc Thêm (1989, 2000), Diệp Quang Ban (1998, 2002, 2006, 2009), Trịnh Sâm – Nguyễn Nguyên Trứ (1989) v.v. 
Bàn về cách hành văn trong thư phàn nàn nói riêng cũng như thư tín thương mại tiếng Anh nói chung, mạch lạc là yếu tố vô cùng quan trọng. Cùng với sự phát triển của phân tích diễn ngôn, mạch lạc được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, quan niệm về mạch lạc trong văn bản là một vấn đề khá phức tạp, được đề cập trong những công trình nghiên cứu nổi tiếng của M.A.K. Halliday và R. Hasan (1976), V. Dijk (1977), H.G. Widdowson (1978), G. Brown và G. Yule (1983), và D. Nunan (1993)…
Công trình nghiên cứu “Liên kết trong tiếng Anh” của M.A.K Halliday và R. Hassan vào năm 1976 được coi là nguồn gốc của các nghiên cứu sâu rộng về mạch lạc trong văn bản sau đó cho dù các tác giả không nghiên cứu về mạch lạc một cách trực tiếp. Trong ấn phẩm này, các tác giả đã đưa ra quan niệm về mạch lạc như sau: “Mạch lạc là tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với phi văn bản” và “Mạch lạc không nêu văn bản thông báo gì mà nêu văn bản được tổ chức thành chính thể ngữ nghĩa như thế nào”. Đồng thời các tác giả cũng nhận định rằng một văn bản mạch lạc phải đáp ứng hai điều kiện: một là văn bản phải phù hợp với ngữ cảnh trong đó nó được tạo ra, hai là văn bản phải có sự liên kết. Trong cuốn “Văn bản và Ngữ cảnh” (1977: 96), Teun A.van Dijk định nghĩa: “Mạch lạc là một thuộc tính ngữ nghĩa của diễn ngôn, dựa trên việc giải thích các câu riêng lẻ trong mối tương quan với các câu khác trong một văn bản”. Đến năm 1993, trong cuốn “Dẫn luận Phân tích Diễn ngôn”, David Nunan kết luận: “Văn bản mạch lạc được phân biệt với các câu ngẫu nhiên bởi sự có mặt của các phương tiện liên kết tạo thành văn bản”. 
Mạch lạc cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà Việt ngữ học. Trong đó có thể kể đến Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Trọng Phiến,… những người tiên phong trong việc nghiên cứu mạch lạc ở Việt Nam. Diệp Quang Ban (1998), lần đầu tiên giới thiệu về mạch lạc trong cuốn “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”, đã xác định ba phạm vi của mạch lạc là: Mạch lạc trong triển khai mệnh đề; mạch lạc trong chức năng; và mạch lạc theo nguyên tắc cộng. Sau đó, các vấn đề liên quan đến mạch lạc trong văn bản đã được tác giả tiếp tục nghiên cứu và công bố ở các công trình tiếp theo. Điển hình là trong cuốn “Giao tiếp Diễn ngôn và Cấu tạo của Văn bản”, xuất bản năm 2009, Diệp Quang Ban khẳng định: “Mạch lạc là một khái niệm có ngoại diên bao quát rất rộng, nó bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có bản chất khác nhau, liên quan đến mặt nghĩa và mặt sử dụng văn bản” (2009:293). Nguyễn Thiện Giáp, trong “Dụng học Việt ngữ” (2000) và “Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học” (2006) khẳng định: “Cái quyết định để một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay văn bản chính là mạch lạc” và tác giả đã gợi ý vận dụng lí thuyết mạch lạc vào việc tạo lập văn bản. Nguyễn Hòa (2000) quan niệm: Mạch lạc là sự kết hợp của ba yếu tố là liên kết, cấu trúc và quan yếu. Ba yếu tố này tạo thành mạch lạc trong liên kết, mạch lạc trong cấu trúc và mạch lạc trong quan yếu. Nếu một văn bản nào đó thiếu sự liên kết hình thức thì tính mạch lạc của diến ngôn sẽ giảm, còn nếu thiếu mặt cấu trúc thì văn bản sẽ trở nên lộn xộn, không mạch lạc.
Mạch lạc và liên kết là hai phương diện khác nhau. Mạch lạc là “sợi dây” nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản, nối từ ngữ trong văn bản với các tình huống hữu quan, và gắn văn bản với cách dùng văn bản; còn liên kết là một bộ phận trong hệ thống của một ngôn ngữ với chức năng nối nghĩa của câu với câu trong văn bản theo những cấu hình xác định. Nếu sử dụng các phương tiện liên kết hợp lý thì liên kết sẽ là yếu tố góp phần tạo nên mạch lạc cho văn bản. 
Hành vi phàn nàn là hành vi phổ biến trong hầu hết các ngôn ngữ và các nhà ngôn ngữ cho rằng bản chất của nó đã mang tính đe doạ và có thể làm tổn hại đến mối quan hệ xã hội giữa những người tham thoại (Moon, 2002; Olshatain & Weinbach, 1993), do vậy yếu tố lịch sự nên được áp dụng nhằm giữ thể diện cho người đối diện hoặc chí ít cũng giúp làm dịu đi sự khắc nghiệt của lời phàn nàn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận án này là làm rõ các phương tiện biểu hiện mạch lạc trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và văn bản thư phàn nàn tiếng Việt, qua đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về mạch lạc giữa hai loại văn bản này để đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc giảng dạy, soạn thảo và biên dịch thư phàn nàn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận án sẽ tập trung vào những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
– Tìm hiểu diễn ngôn của văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và văn bản thư phàn nàn tiếng Việt để xác định được những điểm giống nhau và khác nhau về diễn ngôn của hai loại văn bản này.
– Phân tích các phép liên kết và các mối quan hệ tạo mạch lạc xuất hiện trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và văn bản thư phàn nàn tiếng Việt.
– Từ kết quả phân tích này, chúng tôi sẽ so sánh đối chiếu những biểu hiện của mạch lạc trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và văn bản thư phàn nàn tiếng Việt để đề xuất các giải pháp hiệu quả cho việc giảng dạy, soạn thảo và biên dịch hai loại văn bản này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung đối chiếu tính mạch lạc của thư phàn nàn trong tiếng Anh và tiếng Việt. Trong đó, các thư phàn nàn tiếng Anh được nghiên cứu là những thư phàn nàn được viết bởi người Anh. 
Trọng tâm của nghiên cứu là tập hợp, hệ thống hoá, phân tích đặc trưng văn hoá – ngôn ngữ và đặc trưng văn hoá – xã hội của mạch lạc trong thư phàn nàn, so sánh và khái quát khoá những nét tương đồng và dị biệt của mạch lạc trong thư phàn nàn trong tiếng Anh và tiếng Việt.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Tài liệu phục vụ cho luận án là sự kết hợp của nhiều kênh khác nhau:
Trước hết, luận án sẽ thu thập các tài liệu liên quan đến mạch lạc trong văn bản từ các nguồn như báo, sách, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. 
Bên cạnh đó, luận án sẽ thu thập các mẫu thư phàn nàn đa dạng từ các công ty cung cấp dịch vụ và sản phẩm có khách hàng đến từ các quốc gia khác nhau như các khách sạn năm sao, các công ty kiểm toán quốc tế, các ngân hàng nhà nước, các trung tâm thương mại vv..vv.. để đảm bảo thu thập được cả những thư phàn nàn tiếng Việt do chính người Việt viết cũng như những thư phàn nàn tiếng Anh do người Anh viết.
Luận án sẽ sử dụng cả dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp là các thư phàn nàn sẵn có được thu thập từ bộ phận chăm sóc khách hàng của các công ty. Dữ liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua phiếu khảo sát hoàn thiện diễn ngôn. Các đối tượng tham gia sẽ được yêu cầu cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi có chứa tình huống cụ thể. Đồng thời, phiếu khảo sát cũng yêu cầu người trả lời điền các thông tin có liên quan đến độ tuổi, giới tính, nơi sinh, nghề nghiệp, tôn giáo.
Khách thể nghiên cứu của đề tài dự kiến sẽ là những giảng viên và sinh viên của Đại học Ngoại thương, trong đó có cả những sinh viên nước ngoài người Anh, hoặc những người nói tiếng Anh bản ngữ sống và làm việc tại Việt Nam như giáo viên dạy tiếng Anh tại các trung tâm tiếng Anh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, dựa trên kết quả phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa cơ sở lí thuyết của đề tài, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn sau:
– Phương pháp phân tích diễn ngôn để nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ ở cấp độ trên câu, cụ thể ở nghiên cứu này là các văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt.
– Phương pháp so sánh – đối chiếu để tìm ra những đặc điểm tương đồng và khác biệt về mạch lạc trong hai văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt.
– Phương pháp điều tra khảo sát để đưa ra những giải pháp phù hợp giúp cho việc giảng dạy, soạn thảo và biên dịch các thư phàn nàn một cách hiệu quả. 
Kết quả thu thập từ công việc nghiên cứu tài liệu, thống kê số liệu, so sánh đối chiếu và điều tra khảo sát sẽ được xử lý theo hai dạng: định tính và định lượng.
6. Dự kiến nghiên cứu
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng tra cứu các thuật ngữ và tài liệu tham khảo, gồm có bốn chương:
Chương 1: Tổng quan 
Trong phần tổng quan, tôi đánh giá những nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án, đó là: các nghiên cứu về mạch lạc và văn bản thư phàn nàn ở lĩnh vực ngôn ngữ học.
Phần cơ sở lí luận sẽ tập trung vào lí thuyết chính của luận án, bao gồm: mạch lạc, vai trò của mạch lạc đối với văn bản, các yếu tố tạo mạch lạc trong văn bản, khái niệm về thư phàn nàn và các đặc trưng của thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt. 
Ngoài ra, phần tổng quan còn đưa ra tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của thư tín thương mại phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt, cũng trình bày rõ lịch sử hình thành, khái niệm, những yêu cầu về nội dung và hình thức, những nghiên cứu khoa học về thư tín thương mại phàn nàn đã được công bố cho tới thời điểm này.
Chương 2:Biểu hiện của mạch lạc qua các phép liên kết trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh: So sánh đối chiếu với tiếng Việt
Chương này trình bày các biểu hiện của mạch lạc trong thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt qua các phép liên kết, gồm: phép quy chiếu, phép nối, phép thế, phép tỉnh lược, phép lặp, và phép liên tưởng. 
Từ những phân tích và tổng hợp về các biểu hiện của mạch lạc trong thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt qua các phép liên kết, nghiên cứu sẽ so sánh – đối chiếu để chỉ ra những tương đồng và dị biệt về mạch lạc trong hai loại văn bản này.
Chương 3: Biểu hiện của mạch lạc qua các kiểu quan hệ trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh: So sánh đối chiếu với tiếng Việt
Chương này tiếp tục khảo sát những biểu hiện của mạch lạc qua các mối quan hệ trong các thư phàn nàn như mối quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ về chủ đề giữa các câu, quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ nhân quả, quan hệ lập luận, quan hệ điều kiện, quan hệ ngoại chiếu, quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.
Dựa vào kết quả khảo sát các trường hợp cụ thể nêu trên, nghiên cứu cũng so sánh – đối chiếu để tìm ra những tương đồng và dị biệt về biểu hiện của mạch lạc qua các mối quan hệ trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và văn bản thư phàn nàn tiếng Việt.
Chương 4: Những ứng dụng trong giảng dạy, soạn thảo và biên dịch thư phàn nàn Anh – Việt
Chương này đưa ra những lưu ý về việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ tạo mạch lạc cho các văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt – ứng dụng vào giảng dạy, soạn thảo và biên dịch các thư phàn nàn Anh – Việt. 
7. Dự kiến những kết luận, kết quả nghiên cứu cần đạt được
Luận án “Đối chiếu Anh – Việt về mạch lạc trong thư tín thương mại phàn nàn” là một nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
7.1. Về lý luận
Luận án sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản. Đây là một cách nghiên cứu văn bản dưới góc độ chức năng và dụng học. Phương pháp so sánh – đối chiếu của ngôn ngữ học phát triển do nhu cầu dạy và học ngôn ngữ cùng với nhu cầu dịch thuật. Chính vì vậy, việc nghiên cứu theo đường hướng của phân tích diễn ngôn và so sánh – đối chiếu áp dụng cho luận án này xuất phát từ các mục đích ứng dụng cụ thể vào công việc giảng dạy, soạn thảo và dịch thuật các văn bản thư tín thương mại phàn nàn.
Thông qua việc tổng hợp và phân tích các quan niệm về mạch lạc trong văn bản theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới từ trước tới nay, luận án đã đi đến kết luận:
Thứ nhất, mạch lạc chính là mạng lưới quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong câu, các câu trong đoạn và các đoạn trong một văn bản để tạo nên một chỉnh thể. Một chỉnh thể có cấu trúc ngữ nghĩa càng tường minh thì tính mạch lạc càng cao. Để có được một văn bản thì từ cấp độ câu văn, đoạn văn đến chuỗi các đoạn văn phải mạch lạc. Văn bản mạch lạc là văn bản có các ngôn từ được trình bày hợp lý về mặt nghĩa và mặt chức năng nhằm tạo ra sự kết nối rõ ràng giữa các sự kiện trong văn bản hơn là sự liên kết câu với câu. 
Thứ hai, mạch lạc và liên kết là hai phương diện khác nhau. Mạch lạc là “sợi dây” nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản, nối từ ngữ trong văn bản với các tình huống hữu quan, và gắn văn bản với cách dùng văn bản; còn liên kết là một bộ phận trong hệ thống của một ngôn ngữ với chức năng nối nghĩa của câu với câu trong văn bản theo những cấu hình xác định. Mặc dù mạch lạc và liên kết là hai khái niệm không đồng nhất nhưng chúng có quan hệ rất gần nhau và đóng vai trò bổ sung cho nhau trong việc tạo lập văn bản: Liên kết tạo nên sự chặt chẽ về mặt hình thức còn mạch lạc tạo nên sự chặt chẽ về mặt nội dung. Do đó, nếu sử dụng các phương tiện liên kết hợp lý thì liên kết sẽ là yếu tố góp phần tạo nên mạch lạc cho văn bản.
Dựa trên quan niệm mạch lạc là sự kết nối về mặt ngữ nghĩa (semantics) và mặt ngữ dụng (pracmatics) giữa các yếu tố cấu thành văn bản nhằm tạo ra sự rõ ràng, thống nhất trong diễn ngôn hơn là sự liên kết giữa các câu một cách thuần túy, luận án đã đi sâu so sánh đối chiếu những biểu hiện của mạch lạc trong thư tín thương mại phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt ở tất cả các mặt, bao gồm:
* Mạch lạc biểu hiện qua các phép liên kết: Phép lặp, phép quy chiếu, phép nối, phép thế, phép tỉnh lược, phép liên tưởng.
      * Mạch lạc biểu hiện qua các mối quan hệ: Quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ về chủ đề giữa các câu, quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ nhân quả, quan hệ lập luận, quan hệ điều kiện. quan hệ ngoại chiếu, quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.
Phương pháp so sánh đối chiếu những đối tượng cùng phạm trù không chỉ mang tính khách quan mà còn đem lại những kết quả so sánh chính xác. Phương pháp so sánh đối chiếu này được thực hiện theo hai cách:
Cách thứ nhất là so sánh đối chiếu định lượng: Cách so sánh đối chiếu này nhằm xác định những khác biệt về số lượng các yếu tố ngôn ngữ xét theo một tiêu chí đối chiếu. 
Cách thứ hai là so sánh đối chiếu định tính: Cách so sánh đối chiếu này nhằm tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa các yếu tố ngôn ngữ tương đương của hai ngôn ngữ. 
Kết quả so sánh – đối chiếu mạch lạc trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt cho thấy: 
Đối với sự thể hiện của mạch lạc qua các phép liên kết, những điểm tương đồng giữa văn bản thư tín thương mại Anh và tiếng Việt thể hiện ở phép nối, phép liên tưởng, phép thế, phép tỉnh lược, và phép lặp. Tuy nhiên, những điểm dị biệt lại xuất hiện ở các trường hợp mạch lạc thể hiện qua phép quy chiếu và theo kiểu suy luận quy kết. Trong khi văn bản thư phàn nàn tiếng Anh dùng phép quy chiếu để tạo mạch lạc thì lại không dùng kiểu suy luận quy kết; còn văn bản thư phàn nàn tiếng Việt thì ngược lại, dùng kiểu suy luận quy kết nhưng không dùng phép quy chiếu.
Đối với những biểu hiện của mạch lạc qua các mối quan hệ, văn bản thư phàn nàn tiếng Anh với văn bản thư phàn nàn tiếng Việt có nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên, điểm khác nhau lớn nhất là trong thư phàn nàn tiếng Việt có trường hợp mạch lạc thể hiện trong quan hệ ngoại chiếu – nằm ở phần xác định giá trị pháp lý của thư thương mại phàn nàn. 
7.2. Về thực tiễn
Hoạt động kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế các nước nói chung và Việt Nam nói riêng. Một doanh nghiệp có thể thực hiện mười giao dịch hoàn hảo với khách hàng, nhưng chỉ cần một giao dịch nào đó có một sai sót nhỏ là đủ để thu hút sự chú ý của rất nhiều người. Thực tế này cho thấy chúng ta phải tập trung vào những điều các công ty có thể học hỏi từ những khách hàng không hài lòng. 
Với người sử dụng dịch vụ và sản phẩm, việc soạn thảo thư phàn nàn hiệu quả và chuẩn xác là hết sức cần thiết. Một thư tín thương mại phàn nàn có tính logic có nghĩa là nó có sự ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực. Mỗi điểm được đề cập đến trong thư phàn nàn đều phải rõ ràng, mạch lạc, có dẫn chứng đi kèm để tránh những tranh chấp và kiện tụng có thể xảy ra. Đây chính là lý do cần có những thư tín thương mại phàn nàn được viết rất chuẩn xác về hình thức, nội dung và văn phong. Việc nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn này.
Luận án bổ sung thêm những vấn đề lý luận về mạch lạc trong văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt vào thực tiễn quá trình giảng dạy, soạn thảo và biên dịch các văn bản thư tín thương mại này. Những vấn đề lý luận nêu ra trong luận án không chỉ là những nghiên cứu khoa học về mặt lý thuyết mà còn là những lý luận khoa học có tính ứng dụng thực tiễn cao. Việc khai thác, phân tích và so sánh – đối chiếu các khía cạnh ngôn ngữ liên quan đến biểu hiện của mạch lạc trong các văn bản thư phàn nàn tiếng Anh và tiếng Việt để giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy, soạn thảo và biên dịch văn bản thư tín thương mại này. Những điểm tương đồng và dị biệt trong việc xuất hiện và không xuất hiện các yếu tố tạo mạch lạc trong các văn bản này mà luận án khảo sát theo hai mục riêng biệt là biểu hiện của mạch lạc qua các phép liên kết và biểu hiện của mạch lạc qua các mối quan hệ nhằm giúp cho quá trình tham khảo và ứng dụng vào thực tế được rõ ràng và tiện lợi. Đối với công việc giảng dạy, việc chú ý đến hình thức và nội dung của thư phàn nàn mà quên đi vai trò chi phối của ngôn từ cũng như cách diễn ngôn của nó sẽ không giúp người học tự tin khi viết thư phàn nàn bởi vì họ chỉ nắm được “cái khung” thư tín mà không thể tự làm ra một thư tín hoàn chỉnh. Đối với việc soạn thảo, nếu chỉ biết dựa vào thư mẫu thì không thể thỏa mãn đầy đủ hay chính xác những yêu cầu và nguyện vọng của người viết. Do đó, việc nắm vững những lý luận về mạch lạc cũng như những gợi ý cho việc soạn thảo nêu ra ở luận án này là một giải pháp hữu hiệu. 
8. Danh mục tài liệu tham khảo
1. Austin, J. L. (1962), How to Do Things with Words, Oxford: Clarendon Press. 
2. Brown, G. & Yule, G. (1983), Discourse Analysis, Cambridge University Press. 
3. Bùi Khánh Thế (1995), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Candlin, C. N. & Widdowson, H. G. (1989), Discourse, Oxford University Press.

5. Coulthard, M. (1977), An Introduction to Discourse Analysis, Longman, London.
6. Diệp Quang Ban. Giao tiếp – Diễn ngôn và Cấu tạo Văn bản, NxbGD, 2009
7. Diệp Quang Ban. Giao tiếp – Diễn ngôn và Cấu tạo Văn bản, NxbGD, 2009
8. Diệp Quang Ban. Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NxbGD, 1998.
9. Diệp Quang Ban. Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NxbGD, 1998.
10. Đinh Trọng Lạc. Phong cách học tiếng Việt, Nxb GD, 1999.
11. Gillian Brown and George Yule. Discourse Analysis, Cambridge: Cambridge University Press, 1983. 
12. Grice, H. P (1975), “Logic and Conversation”, In: Cole P., Morgan J.L. (eds.) Syntax and Semantics 3: Speech Acts. Academic Press, New York.

13. Halliday, Michael A. K. Ruqaiya Hasan. Cohesion in English. London: Longman, 1976.
14. M.A.K. Halliday. An Introduction to Functional Grammar. Hodder Arnold Publisher, 2004.
15. Moon, K. (2002). Speech act study: Differences between native and non-native speakers’ complaint strategies. TESOL Working Papers series 1. College of Arts and Sciences, American University.
16. Nguyễn Hòa. Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp, Nxb ĐHQGHN, 2003.
17. Nguyễn Thị Thìn (2003), “Về mạch lạc của văn bản viết”, Ngôn ngữ, số 3, Hà Nội.

18. Nguyễn Thiện Giáp. Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008. 
19. Nguyễn Văn Hiệp. Cơ sở ngữ nghĩa – Phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, 2008.
20. Nunan David. Dẫn nhập phân tích diễn ngôn (Bản dịch tiếng Việt của Hồ Mỹ Huyền và Trúc Thanh), Nxb GD, 1997.
21. Olshtain, Elite, & Weinbach, Liora. (1993). Interlanguage features on the speech act of complaining. In Kasper, G., Blum-Kulka, S. (Eds.), Interlanguage Pragmatics (pp. 108-122). Oxford: Oxford University Press. 
22. Searle, J. R. (1969), Speech Acts, Cambridge University Press, London.
130. Searle, J. R. (1980), Expression and Meaning, Cambridge and New York: Cambridge University Press.

23. Stubbs, M. (1983), Discourse Analysis, University of Chicago Press.

24. Trần Ngọc Thêm (1989), Văn bản và việc nghiên cứu văn bản tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội. 
25. Trần Ngọc Thêm. Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1985.
26. Van Dijk, Teun A. and Walter Kintsch. Strategies of Discourse Comprehension, New York: Academic Press, 1983.
Liên hệ viết bài:

Hotline: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *