Đánh giá tình hình tài chính và so sánh tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Đại Việt và Công ty TNHH xây dựng Hà Nam thông qua một số đặc trưng tài chính

Rate this post
Tiểu luận môn học quản trị tài chính đề tài: Đánh giá tình hình tài chính và so sánh tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Đại Việt và Công ty TNHH xây dựng Hà Nam thông qua một số đặc trưng tài chính
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khó khăn và thách thức cho các doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, để có thể khẳng định được mình, mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững tình hình cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm tình hình tài chính vì nó có quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin doanh nghiệp để họ có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình công nợ, nguồn vốn, tài sản, các chỉ tiêu về tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 
Bên cạnh đó, kết quả của việc phân tích tài chính sẽ cho nhiều thông tin bổ ích hơn khi nó được so sánh với các kết quả phân tích tài chính liên quan. Chẳng hạn như so sánh các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực với nhau (các doanh nghiệp có quy mô và phạm vi hoạt động tương đương với nhau). Dựa vào kết quả so sánh, chủ doanh nghiệp sẽ dễ dàng thấy được vị thế của doanh nghiệp của mình trên thị trường, sức mạnh về tài chính của doanh nghiệp của mình đối với các đối thủ cạnh tranh và lý giải được sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp mà phát huy hay khắc phục.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tài chính và để làm rõ hơn vấn đề này em đã thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình tài chính và so sánh tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Đại Việt và Công ty TNHH xây dựng Hà Nam thông qua một số đặc trưng tài chính”. 
Nội dung đề tài gồm:
Chương I: Khái quát chung về tài chính và quản trị doanh nghiệp
Chương II: Đánh giá tình hình tài chính và so sánh tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Đại Việt và Công ty TNHH xây dựng Hà Nam.
Nếu bạn đang trong quá trình viết tiểu luận quản trị tài chính, bạn bận công việc hoặc vướng nhiều khó khăn không thể tự mình hoàn thiện được đề tài, bạn cần tìm một đơn vị hỗ trợ viết tiểu luận uy tín thì có thể liên hệ với Luận Văn Group nhé, chúng tôi nhận viết thuê tiểu luận với giá cạnh tranh nhất thị trường.
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Bản chất, khái niệm của tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì nhà kinh doanh đều phải có một lượng vốn ban đầu nhất định được huy động từ các nguồn khác nhau như: Tự có, ngân sách cấp, liên doanh liên kết, phát hành chứng khoán hoặc vay của ngân hàng…. Số vốn ban đầu đó sẽ được đầu tư vào các mục đích khác nhau như: Xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, vật tư và thuê nhân công…. Như vậy, số vốn ban đầu khi phân phối cho các mục đích khác nhau thì hình thái của nó không còn giữ nguyên dưới dạng tiền tệ ban đầu mà đã biến đổi sang hình thái khác là những hiện vật như nhà xưởng, máy móc thiết bị, đối tượng lao động… Quá trình phân chia và biến đổi hình thái của vốn như vậy là quá trình cung cấp hay nói cách khác là quá trình lưu thông thứ nhất của quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình tiếp theo là sự kết hợp của các yếu tố vật chất nói trên để tạo ra một dạng vật chất mới là sản phẩm dở dang, kết thúc quá trình này thì thành phẩm mới được xuất hiện. Quá trình đó chính là quá trình sản xuất sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp sẽ phải trải qua quá trình lưu thông thứ 2, quá trình tiêu thụ, để vốn dưới dạng thành phẩm trở lại hình thái tiền tệ ban đầu thông qua khoản thu bán hàng của doanh nghiệp. Số tiền thu được đó lại trở về tham quá trình vận động biến đổi hình thái như khi bắt đầu. Quá trình vận động như vậy lặp đi lặp lại liên tục và có tính chất chu kỳ. Chính sự vận động biến đổi hình thái như trên của vốn tạo ra quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau mỗi chu kỳ vận động đó, một lượng vật chất nhất định được chuyển dạng và một lượng giá trị mới được sáng tạo ra, điều đó chính là hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất. 
Quá trình vận động của vốn, hay cũng chính là quá trình sản xuất kinh doanh,  diễn ra được là nhờ  hệ thống các mối quan hệ của doanh nghiệp với môi trường xung quanh nó. Hệ thống các mối quan hệ đó rất phức tạp, đan xen lẫn nhau nhưng ta có thể phân chia thành các nhóm cơ bản như sau:
Nhóm 1: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước. Đây là mối quan hệ nộp, cấp. Nhà nước có thể cấp vốn, góp vốn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.
Nhóm 2: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức và cá nhân khác ở các thị trường. Đây là các quan hệ trong việc mua bán, trao đổi hàng hoá, sản phẩm ở thị trường hàng hoá; mua bán trao đổi quyền sử dụng sức lao động ở thị trường lao động hoặc trao đổi  mua bán quyền sử dụng vốn ở thị trường tài chính….
Nhóm 3: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng, thị trường chứng khoán… Đây là các mối quan hệ để thực hiện việc vay mượn, đầu tư vốn… gọi chung là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn.
Nhóm 4: Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ của doanh nghiệp. Đây là các quan hệ chuyển giao vốn, quan hệ trong việc thu hộ, chi hộ giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp với doanh nghiệp. Quan hệ giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên như là việc thanh toán lương, thưởng, vay và trả tiền vốn, tiền lãi và yêu cầu các cá nhân vi phạm hợp đồng và kỷ luật lao động bồi thường thiệt hại hoặc nộp các khoản tiền phạt.
Hệ thống các mối quan hệ trên có những điểm chung là:
– Đó là những mối quan hệ kinh tế, những quan hệ liên quan đến công việc tạo ra sản phẩm và giá trị mới cho doanh nghiệp.
– Chúng đều được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, thông qua đồng tiền để đo lường, để đánh giá.
– Chúng đều nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. 
Chỉ cần một sự mất cân đối hoặc sự phá vỡ của một trong những mối quan hệ trên thì quá trình vận động biến đổi hình thái của vốn có thể bị đình trệ, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì thế mà sẽ bị đảo lộn thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Hệ thống các mối quan hệ như vậy được coi là tài chính của doanh nghiệp. 
Như vậy tài chính doanh nghiệp không đơn thuần chỉ là những khoản tiền hoặc những hoạt động liên quan đến tiền mà nó có thể được hiểu như sau:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái tiền tệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh nó, những mối quan hệ này nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. 
Như vậy trong khái niệm tài chính doanh nghiệp có xuất hiện yếu tố tiền tệ, yếu tố tiền tệ đó thực hiện đầy đủ các chức năng của nó nhờ đó mà quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi. Tuy nhiên, chỉ khi có sự thay đổi hình thái giá trị để tạo ra giá trị mới thì mới có sản xuất, kinh doanh. Sự dịch chuyển giá trị đơn thuần, không tăng thêm giá trị mới chỉ là một quá trình trong toàn bộ hệ thống của quá trình sản xuất xã hội. Sự dịch chuyển giá trị như vậy không xảy ra ở một doanh nghiệp mà thường xuất hiện ở các tổ chức khác của xã hội như các cơ quan hành chính sự nghiệp chẳng hạn.
Nếu bạn đang trong quá trình viết tiểu luận môn học, bạn bận công việc không thể tự mình hoàn thiện được đề tài, bạn cần tìm kiếm người có kinh nghiệm 
1.2. Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Chức năng của tài chính doanh nghiệp 
Chức năng của tài chính doanh nghiệp có nghĩa là nó có thể dùng để làm gì hoặc nó có thể làm gì cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo ý nghĩa đó, tài chính doanh nghiệp được coi là có hai chức năng cơ bản: Chức năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền.
1.2.1.1. Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của tài chính cho phép nó quyết định việc phân phối các nguồn lực cũng như các kết quả được tạo trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mọi nguồn lực cũng như kết quả sản xuất kinh doanh dưới mọi hình thái khác nhau đề được đo bằng tiền đồng thời mọi mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp cũng phải lượng hóa và giải quyết bằng việc dịch chuyển giá trị. 
Chức năng phân phối là một khả năng khách quan vốn có của phạm trù tài chính nói chung và tài chính doanh nghiệp nói riêng. Con người nhận thức và vận dụng khả năng này để tiến hành phân phối nguồn tài chính của doanh nghiệp để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, nhằm thoả những nhu cầu của chủ doanh nghiệp. Đối tượng phân phối của tài chính doanh nghiệp là các nguồn tài chính của doanh nghiệp, đó chính là những giá trị của cải mới sáng tạo ra trong kỳ, những giá trị của cải doanh nghiệp tích luỹ từ trước hoặc những nguồn lực được huy động từ các nguồn trong xã hội… Chủ thể phân phối của tài chính doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp. Tiêu chuẩn phân phối là các chỉ tiêu kinh tế – tài chính do chủ doanh nghiệp quyết định dựa trên các mối quan hệ tài chính. Quá trình phân phối diễn ra trước, trong và sau quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể là phân phối về nguồn huy động vốn cho doanh nghiệp, phân phối số vốn huy động được để đầu tư vào các loại tài sản và phân phối thu nhập sau quá trình kinh doanh. Quá trình phân phối của tài chính doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp.
Tuy vậy, việc phân phối phải dựa trên các tiêu chuẩn và định mức được tính toán một cách khoa học trên nền tảng là hệ thống các mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với môi trường xung quanh. Phân phối hợp lý là mục đích mà chủ thể mong muốn. Để phân phối chủ  thể phải dựa trên cơ sở quá trình phân tích, tính toán khoa học. Việc phân tích không chi tiết, việc tính toán không chính xác có thể gây ra sự mất cân đối các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh làm cho quá trình sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả cao, thậm chí dẫn đến phá sản. Các tiêu chuẩn và định mức phân phối ở mỗi quá trình sản xuất kinh doanh mặc dù được tính toán đầy đủ chính xác thì nó cũng không thể là bất di bất dịch mà thường xuyên được điều chỉnh, uốn nắn cho phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế thường xuyên thay đổi. Như vậy, quyền quyết định việc phân phối thuộc về chủ doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có chức năng là công cụ mà thôi, tuy nhiên, nó giúp chủ doanh nghiệp có cơ sở khoa học để quyết định phân phối.
Việc điều chỉnh uốn nắn đó được thực hiện thông qua chức năng thứ hai của tài chính là chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp.
1.2.1.2. Chức năng giám đốc
Đây cũng là một khả năng khách quan vốn có của phạm trù tài chính nói chung và tài chính doanh nghiệp nói riêng. Giám đốc tài chính doanh nghiệp là việc theo dõi, giám sát. Đối tượng của giám đốc tài chính là quá trình phân phối, cụ thể là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Chủ thể giám đốc tài chính doanh nghiệp là chủ thể phân phối tài chính doanh nghiệp, cụ thể là chủ doanh nghiệp. Mục đích của giám đốc tài chính doanh nghiệp là kiểm tra tính hợp lý, tính đúng đắn và hiệu quả của quá trình phân phối tài chính. Từ kết quả của việc giám đốc mà chủ thể có phương hướng, biện pháp điều chỉnh cho quá trình phân phối tài chính doanh nghiệp hợp lý hơn và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Đặc điểm của giám đốc tài chính doanh nghiệp là giám đốc bằng đồng tiền. Phương pháp giám đốc là đo lường, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu tài chính và bằng phương pháp phân tích khoa học, ta có thể thấy được thực trạng tài chính doanh nghiệp cũng như các tiềm năng tài chính của doanh nghiệp. Dựa vào những kết luận của việc phân tích, chủ doanh nghiệp có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu hơn trong việc hợp lý hóa phân phối các nguồn lực, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 
Khi nói đến chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp, ta có thể nhầm lẫn với công tác thanh tra, kiểm tra tài chính. Thực ra hai khái niệm này rất khác nhau. Công tác kiểm tra, thanh tra tài chính là một hoạt động chủ quan của con người trong việc thực hiện chức năng tài chính, nó có thể tồn tại hoặc không tồn tại, có thể đúng đắn, cũng có thể sai lệch. Công tác này thường chỉ được thực hiện bởi nhân viên của các cơ quan chức năng quản lý của Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp vi phạm chế độ quản lý kinh tế, tài chính, hay bị thua lỗ kéo dài, nợ dây dưa, bị kiện cáo…  Nếu các nhân viên thanh tra có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, công minh chính trực thì kết quả thanh tra mới phản ánh đúng tình hình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, trường hợp ngược lại thì kết quả thanh tra sẽ bị sai lệch. Còn chức năng kiểm tra hay giám đốc bằng đồng tiền của tài chính là thuộc tính vốn có của nó. Nó luôn luôn tồn tại và luôn luôn đúng bởi vì khi đã có quá trình sản xuất kinh doanh thì nhất định có hệ thống các chỉ tiêu tài chính cho dù nhà sản xuất kinh doanh có ghi chép nó vào các sổ sách hay không.
Hai chức năng trên đây của tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chức năng phân phối xảy ra ở trước, trong và sau mỗi quá trình sản xuất kinh doanh, nó là tiền đề cho quá trình sản xuất kinh doanh, không có nó sẽ không thể có quá trình sản xuất kinh doanh. Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng phân phối, có tác dụng điều chỉnh và uốn nắn tiêu chuẩn và định mức phân phối để đảm bảo cho nó luôn luôn phù hợ với điều kiện và tình hình thực tế của sản xuất kinh doanh.  
1.2.2. Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp 
Chức năng tài chính được thực hiện bởi chủ doanh nghiệp, như vậy, nói nhiệm vụ tài chính doanh nghiệp có nghĩa là nói đến nhiệm vụ của chủ doanh nghiệp để đảm bảo cho tài chính thực hiện tốt chức năng của mình.
Để thực hiện tốt các chức năng của tài chính thì các bộ phận quản lý có liên quan của doanh nghiệp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thiết lập những mối quan hệ khăng khít với thị trường vốn để luôn luôn chủ động về vốn cho sản xuất kinh doanh.
Xác định mục đích phân phối vốn đúng đắn, rõ ràng.
Tính toán chính xác các tiêu chuẩn phân phối vốn đúng với các mục đích đã xác định.
Tổ chức thực hiện công tác bảo toàn vốn một cách khoa học.
Tổ chức công tác theo dõi, ghi chép phản ánh đầy đủ, liên tục, có hệ thống các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp.
Tổ chức công tác phân tích đánh giá toàn diện tình hình thực hiện các định mức và tiêu chuẩn phân phối, tình hình thực hiện hệ thống các chỉ tiêu tài chính để kịp thời phát hiện những bất hợp lý trong quá trình thực hiện các mối quan hệ của doanh nghiệp với môi trường kinh tế xung quanh từ đó có những quyết định điều chỉnh hợp lý.
Cùng với các bộ phận quản lý khác của doanh nghiệp, công tác quản lý tài chính góp phần duy trì và phát triển quan hệ với bạn hàng, khách hàng và các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp đồng thời luôn đảm bảo thực hiện tốt  các quy định, chế độ quản lý của nhà nước.
Chức năng của tài chính có được thực hiện tốt hay không, hiệu quả công tác quản trị tài chính có cao hay không phụ thuộc vào công sức và trí tuệ của toàn thể cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp mà quan trọng nhất là kiến thức về quản trị  tài chính và năng lực lãnh đạo của người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp.
1.2.3. Tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp 
Quy mô bộ máy quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp có thể khác nhau tùy thuộc quy mô doanh nghiệp, chế độ sở hữu, loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp…
Về cơ bản, các bộ phận liên quan trực tiếp đến quản lý tài chính là:
Đối với doanh nghiệp cổ phần là Hội đồng quản trị, đứng đầu là chủ tịch hội đồng quản trị, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn là Hội đồng thành viên, đướng đầu là chủ tịch hội đồng thành viên. Có nhiệm vụ ra các quyết định điều chỉnh có tính chất chiến lược của doanh nghiệp. Quyết định mọi chính sách về phân phối, chính sách tích luỹ và tiêu dùng cũng như các quyết định quan trong ảnh hưởng đến toàn doanh nghiệp. 
 Tổng giám đốc, người chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính, tình hình thực hiện các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp, điều chỉnh các mối quan hệ trong phạm vi quyền hạn cho phép. Điều chỉnh các quan hệ tài chính trong phạm vi cho phép, báo cáo tình hình tài chính của doanh nghiệp lên cấp trên và đề xuất các biện pháp điều chỉnh đối với những mối quan hệ vượt quá phạm vi quyền hạn cho phép . 
Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Có trách nhiệm phân tích và điều chỉnh các mối quan hệ tài chính trong phạm vi cho phép, báo cáo tình hình và đề xuất các biện pháp điều chỉnh các quan hệ tài chính vượt quá khả năng, phạm vi quyền hạn của mình lên cấp trên. Chức danh này thường không ấn định một cách độc lập mà thường do một trong những thành viên trong ban lãnh đạo đảm nhiệm.
 Bộ phận kế toán, bao gồm kế toán trưởng và các nhân viên kế toán, thực hiện các nhiệm vụ theo dõi, phản ánh chính xác kịp thời đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý các tài sản, khai thác và sử dụng các nguồn vốn theo đúng chế độ, thể lệ quy định. Cung cấp các số liệu liên quan đến các hoạt động kinh tế tài chính, phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính làm cơ sở tham khảo cho cấp trên trong việc ra các quyết định quản lý.
 Bộ phận kiểm toán nội bộ là bộ phận trực thuộc lãnh đạo cao nhất của đơn vị có nhiệm vụ trong việc giúp giám đốc doanh nghiệp kiểm tra sự tuân thủ quy chế nội bộ cũng như chế độ quản lý của nhà nước đối với các vấn đề kinh tế, tài chính cũng như hệ thống kế toán của doanh nghiệp.
Bạn có thể xem toàn bộ tiểu luận tại link
Liên hệ dịch vụ viết bài:
Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *