Các định chế tài chính và vai trò của các định chế tài chính ở Việt Nam

Rate this post
TIỂU LUẬN 2
Câu 1: 
Các định chế tài chính và vai trò của các định chế tài chính ở Việt Nam
1.1.1. Ngân hàng thương mại
• Khái niệm
NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ vậy mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế – xã hội.
NHTM là tổchức tài chính tiền gửi và cho vay tiền, là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng đế nhận ký thác, cho vay và cung úng những dịch vụ tài chính.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bão lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. NHTM là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng.
• Các dịch vụ ngân hàng
Các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thực hiện chức năng trung gian gian tín dụng và trung gian thanh toán, vốn đã mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế – xã hội. Các NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Đó chính là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng. Nói đến dịch vụ ngân hàng, người ta thường gắn nó với hai đặc điểm:
Thứ nhất: Đó là dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Ưu thế của NHTM được thể hiện qua các đặc điểm:
– Có hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp, không những ở trong nước mà còn ở các nước.
– Có quan hệ với nhiều doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, do đó nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng một cách cụ thể sâu sắc, biết được những điếm mạnh và điếm yếu của khách hàng.
– Có trang bị hệ thống thông tin hiện đại đồng thời thu nhận và nắm bắt được nhiều thông tin về tình hình kinh tế tài chính, tình hình tiền tệ, giá cả, tỷ giá…và diễn biến của nó trên thị trường.
Thứ hai: Các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng cho phép NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng và hỗ trợ tích cực để NHTM thực hiện tốt các chức năng thứ nhất và thứ hai.
Dịch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho khách hàng không chỉ thuần túy đế hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho chính ngân hàng đó mà dịch vụ NH cũng có tác dụng hỗ trợ các mặt hoat động chính của NHTM mà trước hết là hoạt động tín dụng. Vì vậy các NHTM chỉ nhận cung ứng dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Hiện tại, các NHTM Việt Nam không chỉ chú trọng việc mở rộng mạng lưới nhanh chóng nhằm tiếp cận thị phần bán lẻ, tăng cường tiếp cận khách hàng mà còn đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng phục vụ, gia tăng tính tiện lợi về dịch vụ tài khoản cho khách hàng. Các NHTM nội đã đảm bảo lợi ích tối đa cho chủ tài khoản thanh toán thông qua việc thiết kế dành riêng cho khách hàng có số dư tài khoản thanh toán thường xuyên lớn và mong muốn được hưởng lãi suất hấp dẫn hơn lãi suất gửi không kỳ hạn. Hoặc cung cấp dịch vụ thấu chi trên tài khoản, với hạn mức thấu chi dựa trên thu nhập ổn định hàng tháng, mức tiền lương, tài sản đảm bảo khác. Hầu hết các NHTM Việt Nam đều cung cấp dịch vụ thẻ cá nhân, chủ yếu là ATM nội địa, một số NHTM còn tích cực phát hành thẻ tín dụng quốc tế: Visa, Master, Amex…
1.1.2. Công ty bảo hiểm
• Khái niệm
Các công ty bảo hiểm là các trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ chi trả cho các sự kiện không mong đợi xảy ra(với khoản phí hay giá cả nhất định).
– Công ty bảo hiểm nhân thọ
Công ty bảo hiếm nhân thọ phát hành bảo hiếm chủ yếu cho cái chết và sức khoe của người chủ sở hừu bảo hiểm. Công ty bảo hiểm nhân thọ cam kết chi trả một lần hay nhiều lần cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm. Thực sự bảo hiểm nhân mạng chưa hắn là sản phẩm tài chính chủ chốt của các công ty bảo hiểm, phần lớn công việc kinh doanh của Công ty bảo hiếm nhân thọ là cung cấp các sản phấm dịch vụ bảo hiếm liên quan đến quỹ hưu trí và sức khỏe.
Một số công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam như Công ty Bảo Việt nhân thọ, công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ ACE Life Việt Nam, công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ quốc tế MR AIA, công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai – ichi….
– Công ty bảo hiểm phi nhân thọ
Công ty bảo hiểm phi nhân thọ bảo hiểm cho một loạt các sự kiện không định trước khác nhau liên quan đến tài sản như: Mất mát hư hỏng tài sản; Mất hay thiệt hại khả năng tạo thu nhập của tài sản; Thiệt hại hay thương tật gây ra cho chủ thế khác thứ  ba; Thiệt hại hay thương tật do tai nạn nghề nghiệp.
Một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam như Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Liberty của Mỹ, công ty bảo hiểm phi nhân thọ của tập đoàn ACE Group…
• Các loại hình dịch vụ bảo hiểm các công ty bảo hiểm Việt Nam
– Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn
– Bảo hiểm nhân thọ suốt cuộc đời
– Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hỗn hợp
– Bảo hiểm cháy, nổ băt buộc
– Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
– Bảo hiểm xe ô tô…
1.1.3. Quỹ hưu trí
• Khái niệm
Quỹ hưu trí nhận đóng góp từ người lao động trong các doanh nghiệp hoặc trong khu vực nhà nước, tiền thu được thường đầu tư vào các loại chúng khoán. Tiền được trả lại cho các thành viên của quỳ dưới hinh thức tiền hưu.
Trong các quá trình thực hiện chức năng trung gian chuyến đối hình thức của các tài sản, quỹ hun trí cung cấp cho công chúng dạng bảo vệ khác: chi trả thu nhập khi về hưu.
Chủ doanh nghiệp , công đoàn hay từng cá nhân có thế thực hiện từng kế hoạch hưu trí, trong đó sẽ huy động vốn thông qua các khoản đóng góp của các thành viên tham gia.
• Các dịch vụ hưu trí ở Việt Nam
– Quỹ truyền thống: Doanh nghiệp và người lao động đều đóng góp vào quỹ lương hưu, người được uỷ thác có trách nhiệm bảo đảm rằng tài sản có của quỹ đủ trang trải các khoản nợ; doanh nghiệp tài trợ chịu rủi ro còn lại.
– Quỹ mới: Chỉ có những đóng góp của doanh nghiệp là xác định; Tiền hưu cuối cùng phụ thuộc vào giá trị của các khoản đầu tư khi nghỉ hưu.
1.1.4. Công ty tài chính
• Khái niệm
Công ty tài chính là các trung gian tài chính huy động vốn bằng cách phát hành thương phiếu, cổ phiếu và trái phiếu hay vay từ các ngân hàng, sau đó dùng số tiền thu được đem cho vay (thường là các khoản vay nhỏ thích hợp với nhu cầu tiêu dùng và các nhu cầu kinh doanh).
• Các loại hình dịch vụ
– Các công ty tài chính bán hàng
Các công ty tài chính này gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng đế mua hàng hóa từ các nhà bán lẻ hay nhà sản sản xuất nào đó. Công ty tài chính bán hàng thường do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phấm, hàng hóa dịch vụ của công ty. Công ty tài chính bán buôn cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và có được khá nhiều khách hàng bởi vì thông thường các khoản vay này được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn ngay tại các địa điêm mua hàng.
– Các công ty tài chính tiêu dùng
Các công ty tài chính này cung cấp phần lớn nguồn vốn của mình cho các cá nhân và hộ gia đình vay đế mua sắm hàng hóa tiêu dùng như đồ nội thất (giường, tủ…) và vật dụng gia đình (máy giặt, tủ lạnh…), hoặc vay để sửa chửa nhà cửa hay giúp đỡ chi trả các khoản nợ nhỏ. Các công ty tài chính tiêu dùng có thể là các doanh nghiệp riêng biệt dưới hình thức công ty cổ phần hay do các ngân hàng là chủ sở hữu . Thông thường các công ty này cho các khách hàng không có khả năng vay từ  các nguồn khác và định lãi suất cao hơn.
Mới đây, Tập đoàn tài chính PPF N.V. thông báo thành lập Công ty cho vay tiêu dùng tại Việt Nam với tên gọi Công ty TNHH Tài Chính PPF Việt Nam, là Công ty dịch vụ tài chính được cấp phép đầu tiên của tập đoàn PPF ở Châu Á, có trụ sở chính ở Tp. HCM.
– Công ty tài chính doanh nghiệp
Công ty tài chính doanh nghiệp cung cấp các hình thức tín dụng chuyên biệt cho các doanh nghiệp bằng cách thực hiện cấp tín dụng dưới hình thức mua có chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp (dạng tín dụng này còn được gọi là Factoring).
Ngoài nghiệp vụ factoring, công ty tài chính doanh nghiệp còn thực hiện hình thức tín dụng cho thuê tài chính ( nghiệp vụ Leasing ) cụ thể là các công ty tài chính sẽ cho các doanh nghiệp thuê trang thiết bị máy móc ( ví dụ: ô tô, xe tải, toa hàng, máy bay, tàu thủy…) mà mình mua về trong nhũng khoản thời gian nhất định.
Một số các công ty tài chính cung cấp các dịch vụ này như công ty tài chính cổ phần dầu khí PVFC, công ty cổ phần tài chính VietSun….
1.1.5. Các công ty cho thuê tài chính
Dịch vụ cho thuê tài chính là hình thức tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác. Doanh nghiệp được sử dụng tài sản và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời gian đã được thỏa thuận trong hợp đồng thuê.
Cho thuê tài chính có một số đặc trưng sau: 
– Cho thuê tài chính là một dạng cho thuê tài sản, nhưng khác về căn bản so với các loại cho thuê tài sản khác là có sự chuyển dịch về cơ bản các rủi ro và các lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản thuê. 
– Xét dưới hình thức cấp vốn, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản (tài sản này có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, động sản khác…) giữa bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) với khách hàng thuê (khách hàng có nhu cầu thuê thường là các doanh nghiệp, các bên đối tác trong liên kết kinh tế). 
– Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng. 
– Công ty cho thuê tài chính giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê, bên thuê có nghĩa vụ nộp tiền thuê (tiền trích khấu hao tài sản cho thuê) cho công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục cho thuê tài sản đó theo các thỏa thuận trong hợp đồng thuê.
– Loại hình cho thuê tài chính có lợi thế là người thuê không cần bỏ toàn bộ số tiền ra một lúc để có máy móc, thiết bị, đồng thời cũng không cần phải thế chấp tài sản như trong các giao dịch vay vốn khác; bên đi thuê tài chính không phải chịu những rủi ro do sự mất giá của tài sản, hao mòn tự nhiên…          
  Các lợi ích chính:
– Nhanh chóng tiếp cận nguồn vốn đổi mới máy móc thiết bị; phương tiện, dây chuyền sản xuất…
–  Thủ tục đơn giản và yêu cầu về tín dụng thấp;
–  Không cần bảo lãnh, thế chấp;
– Cải thiện dòng tiền và khả năng chi trả;
–  Chi phí của giải pháp được bù đắp song song với lợi ích của giải pháp; 
–  Ổn định các nguồn phải thanh toán;
–  Tạo điều kiện cho việc thu xếp vốn với các khoản thanh toán cố định…
Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, sau 11 năm có mặt, thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chỉ có 11 công ty được thành lập dưới các hình thức sở hữu khác nhau. 
Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp cho thuê tài chính là 150 tỉ đồng – rất nhỏ so với vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại (thường là trên 1.000 tỉ đồng). 
Câu 2:
    Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam
• Phải đẩy nhanh tái cấu trúc ngân hàng
Nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững của Việt Nam đã được nhiều tổ chức quốc tế, các nhà đầu tư và doanh nghiệp đánh giá cao.Tuy nhiên, những tồn tại cơ bản của nền kinh tế vẫn cần tiếp tục được khắc phục như sản xuất công nghiệp hồi phục chậm, hàng tồn kho vẫn ở mức cao, tín dụng ngân hàng chưa được thúc đẩy, tiến trình xử lý nợ xấu chưa có nhiều chuyển biến rõ nét; thị trường chứng khoán vẫn trầm lắng…Một trong những nguyên nhân sâu xa là do khó tiếp cận với dòng vốn ngân hàng, mức lãi suất quá cao, trong khi các ngân hàng thận trọng cho vay để bảo toàn nợ xấu. Chính vì nợ xấu mà hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay bộc lộ những vết nứt nhất định, nếu không tái cấu trúc thì sự sụp đổ là không thể dự đoán trước được.
• Tăng cường trải nghiệm ngân hàng
Phần lớn nguồn vốn huy động của các ngân hàng Việt Nam là xuất phát từ tiền gửi của dân chúng, do đó tạo lập niềm tin và một chiến lược khách hàng đúng đắn sẽ giúp các ngân hàng nuôi dưỡng được nguồn vốn này. Các ngân hàng cần phải có một chặng đường dài để sự phát triển, vì vậy các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần tập trung đầu tiên trên những điều cơ bản của khách hàng, Hãy tự hỏi những câu hỏi sau: Những gì chúng ta có thể làm để chắc chắn rằng với khách hàng rằng ngân hàng của chúng ta tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh? Điều gì sẽ làm cho khách hàng của chúng ta sống tốt hơn? Làm thế nào chúng ta có thể giúp họ giải quyết các vấn đề cụ thể mà họ đang đối phó? Những câu hỏi này sẽ xác định những trải nghiệm khách hàng mà các ngân hàng đang tìm cách tạo ra.
• Giảm thiểu tối đa các chi phí doanh nghiệp
– Tận dụng nguồn dữ liệu cơ sở đã có: Vấn đề phát sinh bởi vì hầu hết các ngân hàng, tổ chức tài chính đang, nắm giữ một trong số những nguồn dữ liệu giàu nhất hơn bất cứ ngành nào, tuy nhiên họ hiếm khi tận dụng nó một cách hiệu quả nhất có thể.
– Nâng cao hiệu quả marketing và kinh doanh: Hiên nay, cách thức người tiêu dùng mua hàng đã thay đổi rất khác so với trước, với đa số người tiêu dùng bắt đầu quá trình mua hàng của họ sử dụng các kênh trực tuyến và ít thường xuyên thích đến thăm một chi nhánh để mở một tài khoản mới. Mô hình mới này đòi hỏi một sự thay đổi trong trọng tâm tiếp thị từ Marketing đẩy, nơi mà thông tin đại chúng sẽ tác động tới người tiêu dùng với những thông điệp, để trở thành Marketing kéo, nơi mà thời gian, địa điểm, nhà cung cấp và kênh phân phối trở nên quan trọng hơn. Các ngân hàng cần chú ý tới chiến lược kinh doanh của mình trong thời gian tới nhằm đảm bảo là đáp ứng được xu hướng tiêu dùng của khách hàng.
Câu 3: 
  Đánh giá tầm quan trọng của phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng và công tác giám sát đối với các bên liên quan của ngân hàng
Ở bất cứ đâu và giai đoạn phát triển nào, sự an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, nhưng có một yếu tố chung là chất lượng của hệ thống quản lý, giám sát ngân hàng. Ngân hàng cần phải được thiết lập, vận hành và quản trị, giám sát theo những chuẩn mực, chính sách an toàn, lành mạnh. Trong điều kiện hệ thống ngân hàng đang phát triển nhanh và thực hiện tái cơ cấu, việc đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, giám sát ngân hàng là tất yếu khách quan, tạo cơ sở thúc đẩy tiến trình đổi mới và tái cơ cấu, đồng thời định hướng cho hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả.
Mặc dù có nhiều đổi mới và phát triển theo định hướng thị trường và phù hợp hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế, nhưng hệ thống ngân hàng vẫn tồn tại hạn chế về chất lượng, hiệu quả, mức độ lành mạnh và năng lực cạnh tranh, chẳng hạn vấn đề nợ xấu lớn, tập trung tín dụng quá mức, thanh khoản yếu, cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm pháp luật và chấp nhận rủi ro quá mức dẫn đến tổn thất…
Thực tế này xuất phát từ năng lực quản trị yếu kém, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao của một bộ phận TCTD và một phần từ cơ chế, chính sách quản lý, thanh tra, giám sát ngân hàng còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hoạt động ngân hàng hiện nay rất phức tạp.
Mặt khác, ngay trong hoạt động tín dụng cũng như trong đời sống kinh tế, dù ở góc độ quản lý hay hay góc độ thực hiện kinh doanh thì việc sử dụng vốn sai mục đích đều nguy hiểm. Bởi về nguyên tắc: Vay cho một mục tiêu nhưng lại sử dụng cho một mục tiêu khác thì nó sẽ làm biến dạng mục tiêu của nền sản xuất, của những hoạt động tín dụng, đặc biệt áp lực liên quan tới vi phạm độ an toàn của hoạt động tín dụng sẽ tăng lên. Do đó, việc tăng cường giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn là một nhiệm vụ bức bách mà các ngân hàng cần phải triển khai và giao trách nhiệm trực tiếp cho các cán bộ thẩm định và tín dụng để đảm bảo khách hàng sử dụng vốn đúng mục đich, hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro không thể thu hồi vốn của ngân hàng.
1.2. Một số biện pháp các định chế tài chính Việt Nam áp dụng để đảm bảo hoạt động an toàn và lành mạnh.
• Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) 
Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người gửi tiền là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV). Nhiệm vụ ấy đang trở nên nặng nề hơn khi hệ thống ngân hàng những năm gần đây có nhiều biến động. Do đó, DIV chú trọng công tác tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin nhằm phát hiện kịp thời các tổ chức tham gia BHTG vi phạm quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra; Chủ động đưa ra các giải pháp ứng phó trong trường hợp xảy ra đổ vỡ, đặc biệt là đối với khối Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Hoàn thiện các văn bản có tính chất pháp lý, cơ chế chính sách để khẳng định được những tiến bộ trong chính sách BHTG như: chính sách hạn mức trả tiền BHTG, chính sách liên quan đến xếp hạng về độ an toàn của các ngân hàng để áp dụng mức phí cho phù hợp…
• Các ngân hàng chủ trương tăng vốn điều lệ
Năm 2013, VietA Bank nâng vốn điều lệ từ hơn 3.000 tỷ lên 3.500 tỷ đồngthông qua việc phát hành trên 11 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, đối tác chiến lược nhằm nâng cao quy moo và chất lượng tài sản sinh lời, tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng. OCB cũng tăng thêm 766 tỷ đồng vốn điều lệ, từ 3.234 tỷ lên 4.000 tỷ đồng thông qua phát hành từ quỹ dự trữ bổ sing vốn điều lệ và lợi nhuận chưa phân phối các năm.
Ngoài hai ngân hàng này, một số NHTMCP nhỏ khác đặt mục tiêu tăng vốn điều lệ trong năm 2013 như Southern Bank cũng lên kế hoạch nâng vốn điều lệ từ mức 4.000 tỷ đồng lên 4.500 tỷ đồng; NamA Bank đã thông qua việc tăng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng lên 3.700 – 4.000 tỷ đồng…
Trong điều kiện nền kinh tế đang có những rối rắm nhất đinh, việc tăng vốn điều lẹ được coi là chuyện tốt, nhất là những ngân hàng yếu kém, nợ xấu cao. Bởi tăng vốn điều lệ giúp ngân hàng bù trừ vốn chủ sở hữu do nợ xấu tăng cao. Nếu chỉ trông chờ lợi nhuận từ dịch vụ thì rất khó để bù đắp và xử lý nợ xấu. 
Câu 2: Mở rộng hội nhập quốc tế và tác động tới hệ thống ngân hàng Việt Nam
Một là: Tạo cơ hội cho các NHTM trong nước tiếp cận vốn quốc tế dễ dàng hơn, tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm và công nghệ hiện đại về quản lý và hoạt động ngân hàng, thực hiện cải tổ toàn diện về mặt tổ chức, năng lực tài chính, khả năng quản trị và ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và cải thiện tính minh bạch trong hoạt động khi các ngân hàng trong nước lựa chọn các ngân hàng nước ngoài danh tiếng làm đối tác chiến lược. 
Do vậy năng lực tài chính trong những năm qua của các NHTM được nâng lên: Hầu hết các ngân hàng đều đạt được mức vốn pháp định là 3000 tỷ theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Trong đó, một số ngân hàng còn có số vốn điều lệ khá cao như: VietinBank, Agribank, Vietcombank,… Giá trị tổng tài sản của các NHTM cũng tăng mạnh, quy mô tài sản của các NHTM đã tăng gấp đôi, từ 1.069 nghìn tỷ lên 2.690 nghìn tỷ đồng và đạt khoảng 3600 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2012. Tính đến tháng 3/2013, đã có 11 ngân hàng thực hiện chào bán thành công cổ phần cho đối tác nước ngoài đều là các ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới, trong đó có 2 NHTM Nhà nước lớn. Việc tăng vốn điều lệ góp phần củng cố năng lực tài chính, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM trong nước.
Hai là: Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính  nước ngoài đến từ các khu vực tài chính phát triển làm phong phú các sản phẩm tài chính hiện đại, tạo kênh cung ứng vốn, kênh dịch vụ đa dạng cho các DN Việt Nam. Các NHTM trong nước có cơ hội học tập và nâng cao trình độ quản trị và cung cấp dịch vụ, phát triển các loại hình và kỹ năng kinh doanh mới chưa có hoặc có ít kinh nghiệm như: kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế, tín dụng thương mại quốc tế, dịch vụ ngân hàng điện tử, môi giới tiền tệ, quản lý rủi ro,…
Ba là: Tạo cơ hội và thúc đẩy các NHTM nói riêng và các DN trong nước nói chung  tích cực cạnh tranh thị trường để tồn tại và phát triển, không chỉ ở trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra khu vực và thế giới.
Với việc hội nhập, nhiều DN trong nước đã có cơ hội mở rộng hoạt động ra khu vực và thế giới, đầu tư ra nước ngoài cũng tăng trưởng đáng kể, là cơ hội để các NHTM gia tăng doanh số vì họ sẽ trở thành các khách hàng tiềm năng của ngân hàng. 
Câu 3: Chức năng của các hợp đồng phái sinh và việc lạm dụng nó
• Chứng quyền: được hình thành từ việc công ty phát hành muốn huy động thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới, và nó chỉ dành cho cổ đông hiện hữu của công ty, cho phép những người sở hữu những cổ phần đang lưu hành được mua một số cổ phiếu nhất định trong đợt phát hành mới tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng trong một thời hạn xác định . 
• Hợp đồng tương lai
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa hai đối tác thực hiện một giao dịch hàng hoá ở một thời điếm chắc chắn trong tương lai với khối lượng và mức giá xác định. Hợp đồng kỳ hạn giúp cho hai bên xác định trước giá cả của khối lượng hàng hoá từ đó họ có kế hoạch on định sản xuất kinh doanh, hạn chế những biến động giá bất lợi cho họ.
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận được tiêu chuấn hoá đế giao dịch trao đối mua bán một tài sản vào thời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức gía xác định. Hợp đồng tương lai nhờ đặc tính linh hoạt và một số đặc điểm mới mà nó khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn và nó được xem như là một công cụ tốt để phòng ngừa rủi ro và đầu cơ.
• Hợp đồng quyền chọn: Chứng khoán phái sinh do những nhà đầu tư tạo lập lên, cho phép người nắm giữ nó được nó được mua hoặc được một khối lượng hàng hoá cơ sở nhất định tại một mức giá xác định và trong một thời gian nhất định.
Hợp đồng này không bắt buộc đối với người nắm giữ hợp đồng quyền chọn tức là người này nếu thấy có lợi cho mình thì có quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng , còn nếu không có lợi thì có quyền đơn phương huỷ bỏ, không thực hiện hợp đồng . Còn bên bán không có bất cứ sự lựa chọn nào khác, phải luôn sẵn sàng giao dịch khi người mua muốn.
Trong thực tế áp dụng các sản phẩm phái sinh rất dễ xảy ra tình trạng lạm dụng sản phẩm này để “lách” biên độ tỉ giá, mua bán ngoại tệ với mức giá cao. Ví dụ: Hai bên thống nhất ký một hợp đồng quyền chọn USD với mức giá thực hiện nhất định, hợp pháp, nhưng cộng với một biểu phí “trên trời”. Tỉ giá thực hiện cộng với mức phí này là một cách lách trần biên độ để mua bán USD với giá cao hơn giá qui định. Những tình huống này đã hạn chế sự phát triển của các sản phẩm phái sinh ngoại hối, do đó doanh nghiệp tỏ ra khá e dè trong việc triển khai áp dụng các sản phẩm.
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *