Đề tài tiểu luận mẫu tại Luận Văn Group: ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS BẰNG THUỐC ARV
MỤC LỤC
PHẦN 1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH HIV/AIDS 1
1.1. Khái niệm HIV/AIDS 1
1.2. Các giai đoạn của bệnh HIV/AIDS 2
1.2.1. Giai đoạn sơ nhiễm (giai đoạn cửa sổ – ARS) 2
1.2.2. Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng 2
1.2.3. Giai đoạn cận AIDS 2
1.2.4. Giai đoạn bệnh AIDS 3
1.3. Các đường lây truyền HIV 3
1.3.1. Tình dục 3
1.3.2. Đường máu 3
1.3.3. Từ mẹ sang con 4
PHẦN 2. ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÓM THUỐC KHÁNG ARV 5
2.1. Khái niệm ARV 5
2.2. Các nhóm thuốc ARV đang được sử dụng 5
2.3. Tác dụng của ARV 5
2.4. Nguyên tắc khi sử dụng ARV 6
2.5. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV 6
2.6. Các phác đồ điều trị ARV 6
2.6.1. Các phác đồ điều trị ARV bậc một 6
2.6.2. Phác đồ thay thế 8
PHẦN 3. TÌNH HUỐNG 10
3.1. Câu hỏi tình huống số 4 10
3.2. Một số độc tính, tác dụng phụ của thuốc ARV có thể gặp khi điều trị 10
3.3. Khuyến cáo phác đồ điều trị ARV 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
PHẦN 1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH HIV/AIDS
1.1. Khái niệm HIV/AIDS
Theo qui định tại Điều 2 của Pháp lệnh phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người ( HIV/AIDS), thuật ngữ HIV và AIDS được hiểu như sau:
– HIV là loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu hoặc truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, sinh đẻ và cho con bú.
+ Hội chứng: nhóm các biểu hiện (triệu chứng) như: sốt, tiêu chảy, sụt cân, nổi hạch… do một căn bệnh nào đó gây ra.
+ Suy giảm miễn dịch: Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh.
+ Mắc phải: Không do di truyền mà do bị lây nhiễm trong cuộc sống.
– AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và dẫn đến chết người.
– Nhiễm trùng cơ hội là những nhiễm trùng xảy ra nhân cơ hội cơ thể bị suy giảm miễn dịch do bị nhiễm HIV.
Hiện nay, dưới sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, HIV/AIDS được hiểu sâu sắc hơn như sau:
– HIV là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người.
– AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong. Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời gian trung bình là 5 năm.
1.2. Các giai đoạn của bệnh HIV/AIDS
Bệnh HIV/AIDS được chia thành 4 giai đoạn như sau:
1.2.1. Giai đoạn sơ nhiễm (giai đoạn cửa sổ – ARS)
Trong khoảng từ 1 – 2 tháng sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể, có từ 40% đến 90% số người sẽ trải qua các triệu chứng giống bệnh cúm. Lúc này, bệnh nhân có thể sốt 38 – 40 độ C, vã mồ hôi, mỏi mệt, đau cơ khớp, viêm họng, sưng nhiều hạch… Thời điểm này là lúc virus di chuyển vào trong máu và bắt đầu nhân rộng với số lượng lớn. Các hiện tượng viêm, sưng chính là phản ứng viêm của hệ miễn dịch.
Khoảng 2 – 3 tháng sau khi sơ nhiễm, cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu, lúc này xét nghiệm mới phát hiện dương tính. Giai đoạn HIV dương tính thường kéo dài 5 – 10 nǎm.
1.2.2. Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng
Giai đoạn này, cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng. Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus HIV vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu). Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm.
Trong cơ thể, sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, dần chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính.
Trong suốt giai đoạn mãn tính, virus HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết, khiến các hạch này thường bị sưng do phản ứng với một số lượng lớn virus kẹt trong mạng lưới tế bào.
1.2.3. Giai đoạn cận AIDS
Giai đoạn cận AIDS cũng không có nhiều biến chuyển. Lúc này, cơ thể dần yếu đi. Thi thoảng, bệnh nhân sẽ mắc chứng viêm xoang, viêm amidan, viêm hầu họng, viêm miệng tái diễn, hay bị mẩn ngứa, phát ban, nấm móng…
Sau vài tháng đến vài năm từ lúc bị nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đỗ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy… Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp.
1.2.4. Giai đoạn bệnh AIDS
Giai đoạn AIDS là giai đoạn cuối cùng của nhiễm HIV và cũng là kết thúc bi thảm khó tránh khỏi ở những người bệnh. Biểu hiện lâm sàng của giai đoạn này là các rối loạn liên quan đến suy giảm miễn dịch.
Lúc này, người bệnh nổi hạch toàn thân kèm theo cơn sốt kéo dài trên một tháng. Kèm với đó là hiện tượng tiêu chảy dài cùng sự sút cân mạnh (khoảng 10% thể trọng cơ thể). Do cơ thể mất hàng rào bảo vệ nên bất kỳ vi khuẩn, virus nào cũng có thể dễ dàng tấn công và gây bệnh.
Khi hệ miễn dịch bị tàn phá gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch… Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm. Có một số thuốc được dùng trong giai đoạn này nhưng chỉ giúp kéo dài sự sống một ít, còn không hoàn toàn điều trị dứt bệnh.
Khi bệnh tiến triển nặng hơn, cơ thể người bệnh có biểu hiện “da bọc xương” do sụt cân mạnh, nấm miệng, u phổi phát triển không ngừng… Các bệnh lý về cơ xương khớp hay viêm loét miệng hoại tử rất nhanh. Ở những giai đoạn muộn sau, khả năng sống sót sẽ thấp dần đi, cơ thể suy nhược, tiều tụy, không sức sống.
1.3. Các đường lây truyền HIV
Có 3 con đường lây truyền HIV:
1.3.1. Tình dục
Virus HIV có rất nhiều trong chất dịch sinh dục của người bị nhiễm. Do vậy, virus HIV có thể xâm nhập vào máu bạn tình qua cơ quan sinh dục. Việc sinh hoạt tình dục dù có giao hợp hay chỉ tiếp xúc cơ quan sinh dục đều có khả năng lây nhiễm.
1.3.2. Đường máu
HIV có rất nhiều trong máu người nhiễm. Do vậy việc dùng chung bơm kim tiêm, dụng cụ y tế không qua tiệt trùng với người nhiễm HIV, truyền máu của người nhiễm HIV đều làm cho bạn bị lây nhiễm HIV.
Riêng về ma túy, bản thân nó không sinh ra HIV nhưng người nghiện ma túy dễ dàng bị lây nhiễm HIV khi dùng chung bơm kim tiêm với bạn nghiện hoặc bơm kim tiêm tại tụ điểm bán thuốc.
1.3.3. Từ mẹ sang con
Tỷ lệ trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV từ những người mẹ bị nhiễm HIV là 25-30%. HIV có thể lây từ mẹ sang bé qua nhau thai khi bé trong bụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh hoặc qua sữa mẹ khi mẹ cho con bú. Trẻ sơ sinh nhiễm HIV thường không sống được quá 3 năm.
PHẦN 2. ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÓM THUỐC KHÁNG ARV
2.1. Khái niệm ARV
ARV là thuốc điều trị dùng cho những người bị HIV, có tác dụng làm giảm sự phát triển của virus HIV và làm chậm giai đoạn HIV sang AIDS. Dùng ARV cho người có HIV được nhìn nhận là một trong những biện pháp tích cực giúp người có HIV cải thiện sức khoẻ và kéo dài thời gian sống của mình.
ARV là viết tắt của Antiretrovaral là một loại thuốc được chế ra nhằm làm giảm sự sinh sôi nảy nở của HIV trong cơ thể. Nếu điều trị ARV hiệu quả thì có thể làm chậm sự tiến triển hoàn toàn của AIDS trong nhiều năm, làm giảm nguy cơ lây truyền và làm tăng chất lượng sống của người nhiễm HIV/AIDS. Thuốc ARV được khuyến khích sử dụng lết hợp để ngăn chặn hình thành khánh thuốc.
2.2. Các nhóm thuốc ARV đang được sử dụng
Các nhóm thuốc ARV được sử dụng tại Việt nam:
– Nhóm ức chế men sao chép ngược nucleoside và nucleotide (NRTI): AZT / Zidovudine; 3TC / Lamivudine; ddl / didanosine; ABC / Abacavir; TDF / Tenofovir; FTC /Emtricitabine.
– Nhóm ức chế men sao chép ngược không phải là nucleoside (NNRTI): NVP /Nevirapine; DLV / Delavirdine; EFV / Efavirenz; ETR / Etravirine.
– Nhóm ức chế men protease (PI): SQV / Saquinavir; RTV / Ritonavir; NFV / Nelfinavir; APV / Amprenavir; LPVr / Lopinavir + ritonavir…
– Nhóm ức chế hòa màng/xâm nhập: MVC/Mariviroc; ENF/Enfuvirtide…
– Nhóm ức chế men tích hợp: RAL / Raltegravir
2.3. Tác dụng của ARV
– Ức chế sự nhân lên của virus HIV và kìm hãm lượng virus trong máu ở mức thấp nhất. Thuốc ARV không chữa khỏi hoàn toàn bệnh HIV.
– Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc và tử vong doc các bệnh nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân nhiễm HIV.
– Cải thiện chất lượng sống và tăng thời gian sống cho người bệnh.
– Ngăn cản sự tiến triển HIV sang AIDS ở bệnh nhân nhiễm HIV.
2.4. Nguyên tắc khi sử dụng ARV
– Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS.
– Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và được chỉ định khi người bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng hoặc xét nghiệm và người bệnh đã sẵn sàng điều trị.
– Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc. Điều trị ARV là điều trị suốt đời, người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc.
– Người nhiễm HIV được điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm virus cho người khác.
– Người nhiễm HIV được điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chưa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
Tùy thuộc vào sự sẵn có của thuốc, tình trạng của người bệnh, các nhà chuyên môn sẽ lựa chọn các phác đồ điều trị tương thích.
2.5. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV
– Tât cả người nhiễm HIV không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4.
– Trẻ dưới 18 tháng tuổi có kết quả xét nghiệm PCR lần 1 dương tính hoặc có kháng thể kháng HIV dương tính đồng thời có biểu hiện sau: nấm miệng, viêm phổi nặng, nhiễm trùng nặng hoặc có bất kỳ bệnh lý nào của giai đoạn AIDS. Ngừng điều trị ARV khi trẻ được xác định không nhiễm HIV.
– Mẹ có xét nghiệm sàng lọc có kết quả phản ứng với kháng thể kháng HIV khi chuyển dạ hoặc sau sinh hoặc đang cho con bú: tư vấn và điều trị ARV ngay cho mẹ đồng thời làm xét nghiệm khẳng định nhiễm HIV. Nếu kết quả xét nghiệm khẳng định nhiễm HIV của mẹ âm tính thì ngừng điều trị ARV.
2.6. Các phác đồ điều trị ARV
2.6.1. Các phác đồ điều trị ARV bậc một
Phác đồ chính (1E) TDF + 3TC+ NVP hoặc (1F) TDF + 3TC+ EFV
Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này cho tất cả các người bệnh bắt đầu điều trị ARV
a. Phác đồ AZT + 3TC + NVP
Liều lượng:
Dạng viên rời:
– AZT/3TC 300 mg/150 mg ==> Lamzivudine2 lần/ngày
– NVP liều 200mg 1lần/ngày trong 2 tuần đầu sau đó tăng lên 2 lần/ngày
Dạng viên kết hợp:
Sáng: 1 viên
Tối: 1 viên
– Uống cách nhau 12 giờ theo chu kỳ vòng tuần hoàn của thuốc, có thể uống thuốc lúc đói hoặc lúc no.
Xét nghiệm Hgb, ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu hoặc ngộ độc gan
Không bắt đầu điều trị phác đồ này cho người bệnh khi Hgb < 80 g/l; thận trọng khi sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ nữ có CD4 >250/mm3.
b. Phác đồ D4T + 3TC + NVP
Bộ Y Tế đang loại bỏ dần D4T do tác dụng của D4T làm rối loại chuyển hóa mở.
Liều lượng:
Dạng viên rời:
– D4T 30 mg 2 lần/ngày
– 3TC 150 mg 2 lần/ngày
– NVP liều 200mg 1lần/ngày trong 2 tuần sau đó tăng lên 2 lần/ngày. Uống thuốc cách nhau 12 giờ theo chu kỳ vòng tuần hoàn của thuốc, có thể uống thuốc lúc đói hoặc lúc no. Xét nghiệm ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần
Sau khi ổn định dùng viên kết hợp: sáng 1 viên, tối 1 viên.
Thận trọng khi sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ nữ có CD4 >250 /mm3.
2.6.2. Phác đồ thay thế
Phác đồ (1B) D4T + 3TC + EFV, phác đồ thay thế (1D) AZT + 3TC + EFV
Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này khi người bệnh không sử dụng được NVP.
a. Phác đồ (1D) AZT + 3TC + EFV => Combivir + EFV
Liều lượng:
– AZT/3TC 200 mg/300 mg ==> Lamzivudine 2 lần/ngày
– EFV 600 mg 1 lần vào buổi tối
– Uống AZT + 3TC cách nhau 12 giờ theo chu kỳ vòng tuần hoàn của thuốc, EFV vào buổi tối trước khi ngủ theo chu kỳ vòng tuần hoàn của thuốc. Không dùng EFV cùng thức ăn có nhiều chất béo, dầu mỡ, các loại thức uống có chất kích thích.
Xét nghiệm Hgb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu.
Không bắt đầu điều trị phác đồ này cho người bệnh khi Hgb < 80 g/l và hoặc phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu. Không dùng EFV cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử).
b. Phác đồ (1B) D4T + 3TC + EFV
Bộ Y Tế đang loại bỏ dần D4T do tác dụng của D4T làm rối loạn chuyển hóa mở.
Liều lượng:
– D4T 30 mg 2 lần/ngày
– 3TC 150 mg 2 lần/ngày
– EFV 600mg 1 lần vào buổi tối
– Uống D4T + 3TC cách nhau 12 giờ theo chu kỳ vòng tuần hoàn của thuốc, uống EFV vào buổi tối trước khi ngủ theo chu kỳ vòng tuần hoàn của thuốc.
Không dùng EFV cùng thức ăn có nhiều chất béo, dầu mỡ, các loại thức uống có chất kích thích.
Không điều trị phác đồ có EFV cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu. Không dùng EFV cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử).
Phác đồ (1E) TDF + 3TC+ NVP hoặc (1F) TDF + 3TC+ EFV
Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này khi người bệnh không dùng được các phác đồ trên.
Phác đồ (1B) D4T + 3TC + EFV, phác đồ thay thế (1D) AZT + 3TC + EFV
Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này khi người bệnh không sử dụng được NVP.
Chọn 1A hoặc 1D
Phác đồ (1D) AZT+ 3TC+ TDF
Chỉ định: Sử dụng phác đồ này khi người bệnh không dùng được cả NVP và EFV.
Liều lượng và cách sử dụng:
– Đối với AZT, 3TC: giống như trên.
– TDF: liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày
Sáng: AZT + 3TC + TDF
Tối: AZT + 3TC
Xét nghiệm creatinin/độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và định kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận (như trên).
Xét nghiệm Hgb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu.
PHẦN 3. TÌNH HUỐNG
3.1. Câu hỏi tình huống số 4
Một bệnh nhân nữ 27 tuổi đến phòng khám ngoại trú để bắt đầu lại ARV. Bệnh nhân đã điều trị ARV 6 tháng trước nhưng xuất hiện dị ứng nặng với NVP. Bệnh nhân được bắt đầu lại ARV sử dụng EFV thay thế NVP, nhưng lại xuất hiện dị ứng phát ban khác. Tất cả các xét nghiệm trước điều trị đều bình thường. Số lượng CD4 là 112.
Anh/chị khuyến cáo phác đồ điều trị ARV nào cho bệnh nhân? Vì sao?
3.2. Một số độc tính, tác dụng phụ của thuốc ARV có thể gặp khi điều trị
– Bệnh lý thần kinh ngoại vi: Biểu hiện rối loạn cảm giác ngoại vi, chủ yếu đầu chi, đi lại khó khăn. Thường gặp khi dùng d4T, ddI, các thuốc kháng retroviruss non-nucleosid. Cần dùng vitamin B liều cao, nếu nặng phải thay thế thuốc.
– Viêm tụy: Gặp khi dùng ddI, d4T. Cần dừng ngay thuốc và thay bằng ZDV.
– Phân bố lại mỡ: Khi dùng ddI, thuốc ức chế proteases. Biểu hiện tăng tích tụ mỡ ở ngực, bụng, lưng, gáy; teo mô mỡ ở cánh tay, cẳng chân, mông, má.
– Độc cho gan: NPV, EFV, ZDV và thuốc ức chế proteases rất độc với gan, gây hủy hoại tế bào gan, tăng men gan. Cần ngừng thuốc nếu có tăng men gan gấp 5 lần bình thường.
– Độc với thần kinh trung ương: EFV biểu hiện lẫn lộn, rối loạn tâm thần, trầm cảm. Cần dừng và thay thế thuốc khi bệnh nhân có vấn đề về tâm thần kinh.
Điều trị thuốc kháng ARV cho những người có HIV là điều trị suốt đời. chính vì vậy, thời điểm thích hợp nhất để người có HIV bắt đầu tham gia điều trị là khi có chỉ định của bác sỹ và khi thực sự sẵn sàng tham gia vào việc điều trị. Thuốc ARV làm giảm quá trình sinh sôi của virus HIV trong cơ thể, làm giảm quá trình từ HIV sang AIDS, phục hồi hệ thống miễn dịch cho cơ thể. Điều trị bằng ARV là một quá trình lâu dài và phức tạp nên người bệnh cần tuân thủ đúng phác đồ điều trị của bác sĩ.
3.3. Khuyến cáo phác đồ điều trị ARV
Số lượng CD4 được xét nghiệm là 112, điều này thể hiện:
– Người bệnh đủ tiêu chuẩn điều trị ARV
– Người bệnh bị suy giảm hệ miễn dịch nặng, có khả năng bị mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
Theo tình huống trên có thể thấy người bệnh không dùng được cả NVP và EFV do bị dị ứng với thuốc bởi vậy lựa chọn Phác đồ (1D) AZT+ 3TC+ TDF.
Chỉ định: Sử dụng phác đồ này khi người bệnh không dùng được cả NVP và EFV.
Liều lượng và cách sử dụng:
– Đối với AZT, 3TC: giống như trên.
– TDF: liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày
Sáng: AZT + 3TC + TDF
Tối: AZT + 3TC
Xét nghiệm creatinin/độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và định kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận (như trên).
Xét nghiệm Hgb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ y tế (2011), Hướng dẫn sử dụng thuốc ARV theo dạng dùng và chuyển đổi phác đồ điều trị, BQLDA thành phần y tế dự án quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS.
2. Bộ y tế (2017), Quyết định số 5418/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn Điều trị và chăm sóc HIV/AIDS ngày 01 tháng 12 năm 2017, Hà Nội.
3. Bộ Y tế (2017), Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS, Hà Nội.
4. Cục Phòng, chống HIV/AIDS (2014), Hướng dẫn theo dõi phản ứng có hại của thuốc kháng HIV (ARV) trong chương trình phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, Hà Nội.
5. Cao Kim Thoa (2018), Tăng tỷ lệ người nhiễm HIV điều trị bằng thuốc kháng virut, Báo nhân dân điện tử truy cập từ: http://www.nhandan.com.vn/suckhoe/tin-tuc/item/36307802-tang-ty-le-nguoi-nhiem-hiv-dieu-tri-bang-thuoc-khang-vi-rut.html.
6. Nguyễn Xuân Trường, Đào Thị Vui, Đoàn Thị Minh Xuân (2015), Đánh giá việc sử dụng phác đồ TDF + 3TC + EFV/NVP trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh viện 09 Hà Nội, Tạp chí dược học, T.55, Số 9 (2015).
7. WHO (2014), Lợi ích của việc xét nghiệm HIV sớm và điều trị HIV sớm.
Xem thêm: Tham khảo 30000 đề tài miễn phí tại Luận Văn Group.
Liên hệ dịch vụ Luận Văn Group
Hotline: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang
Email: Lamluanvan123@gmail.com
Website: https://lamluanvan.net/

Chào các bạn! Mình làm công việc quản trị nội dung của trung tâm Luận Văn Group. Công việc này đã gắn bó với mình được hơn 10 năm, mình tốt nghiệp trường Kinh Tế Quốc Dân, có sở thích là viết các đề tài nghiên cứu và viết luận, các bạn muốn sử dụng dịch vụ bên mình vui lòng liên hệ qua website: https://lamluanvan.net/. Rất mong được sự ủng hộ của các bạn!



Bài viết liên quan
COVID-19 VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU (VLTL)
Đề tài tiểu luận COVID-19 VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU (VLTL) I. ĐẶC ĐIỂM...
Th8
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC – CỤC THUẾ CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 2 PHẦN 1: NỘI DUNG TÌNH HUỐNG 5 1. Hoàn...
Th7
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn...
Th7
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm non hiện nay
MỤC LỤC I. GIỚI THIỆU 1 II. NỘI DUNG CHÍNH 3 2.1. Phân tích quan...
Th7
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LỤC NGẠN SỐ 3, HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1. THỐNG NHẤT GIỮA...
Th7
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Tiêu đề: Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc...
Th7