Sự phát triển của công nghiệp Việt Nam và phân tích thị trường đầu tư

5/5 - (1 bình chọn)
Đề tài tiểu luận: Sự phát triển của công nghiệp Việt Nam và phân tích thị trường đầu tư
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I. Tình hình ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.1. Tình hình ngành công nghiệp Việt Nam 3
1.2. Các chủng loại ngành công nghiệp Việt Nam 6
II. Phân tích hiện trạng ngành công nghiệp Việt Nam 10
2.1. Ưu thế ngành công nghiệp Việt Nam 10
2.2.Lĩnh vực công nghiệp đang đợi khai phá, điều chỉnh đầu tư 10
III. Chính sách đầu tư của Việt Nam 13
3.1. Loại hình công nghiệp được nhà nước bảo hộ 13
3.2. Lĩnh vực được khuyến khích 13
IV.  Thương mại quốc tế 15
4.1. So sánh Công nghiệp Việt, Trung 15
4.2. Lời khuyên cho đầu tư nước ngoài 18
KẾT LUẬN 20
MỞ ĐẦU
Hơn 20 năm đổi mới và phát triển, nền kinh tế – xã hội Việt Nam đã có những đổi thay sâu sắc. Từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với cơ cấu ngành tính theo GDP năm 1985: nông, lâm nghiệp thủy sản 40,2%, công nghiệp, xây dựng 27,4%… Việt Nam đã hội nhập, đổi mới và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các ngành nghề, các thành phần kinh tế đa dạng hơn. Cơ cấu ngành theo GDP năm 2011: nông, lâm nghiệp, thủy sản 24,02%, công nghiệp, xây dựng 40,29%…Nhìn chung cơ cấu các ngành đã chuyển dịch theo hướng phát triển nhiều ngành nghề đảm bảo tăng tưởng, phát huy lợi thế so sánh, gắn với nhu cầu thị trường. Với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 thì nước ta phải có những chính sách phát triển công nghiệp hợp lý, phù hợp với thị trường hiện nay. Vì vậy, việc tìm hiểu về “Sự phát triển của công nghiệp Việt Nam và phân tích thị trường đầu tư” cũng như tìm hiểu về các giải pháp chính sách công nghiệp hiên nay là điều chúng ta cần quan tâm, nghiên cứu.
NỘI DUNG
I. Tình hình ngành công nghiệp Việt Nam
1.1. Tình hình ngành công nghiệp Việt Nam
Nhìn lại thời ký đổi mới, hội nhập có thể thấy song song với việc tăng trưởng và ổn định, nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ. Xu hướng chuyển dịch là tăng nhanh về công nghiệp, dịch vụ, nền kinh tế ngày càng được hiện đại hóa. Nếu năm 1985, tính theo GDP cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản là  40,2% công nghiệp, xây dựng là 27,4% thì đến năm 2011 tỷ lệ cơ cấu tương ứng là 22,02% và 40,79%. Sản xuất công nghiệp trước Cách mạng còn rất sơ khai. Cả nước chỉ có 200 xí nghiệp, với 90 nghìn công nhân, chủ yếu phục vụ sự vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công rẻ mạt của thực dân. Số sản phẩm chỉ đếm trên đầu ngón tay với sản lượng còn rất ít ỏi. Đến nay quy mô công nghiệp đã mở rộng hơn nhiều, các sản phẩm công nghiệp cũng đa dạng hơn về mẫu mã và chủng loại.  Theo thống kê, cả nước có gần nửa triệu doanh nghiệp, trên 4,2 triệu cơ sở cá thể, với gần 1,5 triệu lao động… Có thể thấy, sản xuất công nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng để đưa nước ta đi tới nền kinh tế phát triển. 
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 12 năm 2012 ước tính tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2012 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,8% sao với năm 2011, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 3,5%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 12,3%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Sản xuất công nghiệp năm nay gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa được hồi phục; sức mua trong nước và nhu cầu xuất khẩu giảm nên mức tăng thấp so với một số năm trở lại đây. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm đang bắt đầu có chuyển biến tích cực, theo đó chỉ số sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng dần, chỉ số tồn kho giảm dần.
Một số ngành công nghiệp có mức sản xuất tăng cao so với năm 2011 là: Đóng tàu và cấu kiện nổi tăng 136,7%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 48,3%; sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 39,6%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 23,7%; sản xuất pin và ắc quy tăng 18%; sản xuất đường tăng 17,7%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 14,9%; sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 12,3%; chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 10,1%; khai thác khí đốt tự nhiên tăng 9,9%; khai thác dầu thô tăng 9,8%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 9,7%; sản xuất bia tăng 9,7%. Một số ngành có mức tăng khá như: Sản xuất mỹ phẩm, xà phòng và chất tẩy rửa tăng 9,4%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,8%; sản xuất sợi tăng 8,1%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 7,9%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 7,9%; sản xuất các sản phẩm từ plastic tăng 5,2%. 
Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm so với năm 2011 là: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) tăng 2,3%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 2,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 0,3%; sản xuất vải dệt thoi giảm 0,8%; sản xuất giày, dép giảm 0,9%; sản xuất dây cáp, dây điện giảm 2,1%; sản xuất sơn, vec ni giảm 3,6%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) giảm 3,9%; sản xuất xi măng giảm 6%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 8,1%; khai thác và thu gom than cứng giảm 9,4%; sản xuất xe có động cơ giảm 10%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 14,6%; khai thác đá, cát, sỏi giảm 19,3%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2012 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 7,2%; Bình Dương tăng 7,5%; Hà Nội tăng 5%; Hải Phòng tăng 3,9%; Bắc Ninh tăng 19,1%; Đà Nẵng tăng 6%; Cần Thơ tăng 4,6%; Hải Dương giảm 1%; Vĩnh Phúc giảm 3%.
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mười một tháng năm 2012 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,6%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất đường tăng 112,5%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 34,2%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 29,2%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 23,1%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 21,7%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 10,7%; may trang phục tăng 7,8%; sản xuất mì ống, mì sợi tăng 6,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ mười một tháng tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 4,5%; sản xuất sợi tăng 3,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,9%; sản xuất sắt, thép giảm 1,9%; sản xuất giày, dép giảm 2,2%; sản xuất bia giảm 6,6%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 9,2%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 11,3%; sản xuất vải dệt thoi giảm 16,1%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ giảm 16,7%; sản xuất xi măng giảm 17,1%; sản xuất xe có động cơ giảm 18%; chế biến sữa và sản phẩm từ sữa giảm 18,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 20,6%; sản xuất dây, cáp điện giảm 38,3%.
Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/12/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất xe có động cơ tăng 76,6%; sản xuất dây, cáp điện tăng 56,8%; sản xuất bia tăng 44,5%; sản xuất thuốc lá tăng 42,2%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 42,1%; may trang phục tăng 41,5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 40,8%; sản xuất xi măng tăng 30,6%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 28,6%; sản xuất mỹ phẩm, xà phòng và chất tẩy rửa tăng 24,7%; sản xuất pin, ắc quy tăng 17,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 9,2%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 7,1%; sản xuất giày, dép tăng 6,6%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 3,6%; sản xuất sợi tăng 1,4%; sản xuất vải dệt thoi tăng 1%; sản xuất các cấu kiện kim loại giảm 5,4%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 7,5%; sản xuất thiết bị dẫn điện giảm 9,7%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 20,2%; sản xuất đường giảm 24%.
Tỷ lệ giá trị hàng tồn kho tại thời điểm 01/12/2012 so với giá trị sản xuất ước tính cả năm 2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 6,9%, trong đó một số ngành có tỷ lệ giá trị hàng tồn kho cao như: Chế biến và bảo quản thuỷ sản 12,3%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 10,6%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ 9,5%; sản xuất xe có động cơ 9,1%.
Lao động khu vực doanh nghiệp công nghiệp tháng 12 tăng 0,2% so với tháng trước, trong đó biến động lao động ngành công nghiệp của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Đồng Nai tăng 0,6%; Bình Dương tăng 0,4%; Hà Nội giảm 0,2%; Hải Phòng giảm 0,2%; Bắc Ninh giảm 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 0,9%; Cần Thơ tăng 0,7%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đà Nẵng ở mức tháng 11/2012.
Có thể nói rằng, dù kinh tế Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau khủng hoảng, song nền công nghiệp nước ta vẫn tương đối ổn định, đây là một dấu hiệu đáng mừng.
Xem đầy đủ tại link:
Liên hệ thuê viết tiểu luận:

Hotline: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *