Tiểu luận: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

5/5 - (1 bình chọn)
Đề tài tiểu luận: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp
Mục lục
Lời nói đầu 2
Chương 1. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam 
1.1. Một số đặc điểm dân số Việt Nam hiện nay 
1.2. Lợi thế nguồn nhân lực Việt Nam 
1.2.1. Lợi thế về số lượng 
1.2.2 Lợi thế về chất lượng 
1.3. Chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, cùng với đó là sự phân bổ không hợp lý.
1.4. Vấn đề già hóa dân số 
1.5. Hiện tượng chảy máu chất xám 
Chương 2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam 
2.1. Các giải pháp xét trên góc độ vĩ mô 
2.1.1  Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. 
2.1.2  Phải khai thác, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng  nguồn nhân lực một cách có hiệu quả 
2.1.3 Đầu tư vào giáo dục đào tạo 
2.1.4 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân
2.1.5 Về thể chế 
2.2. Giải pháp từ góc độ của doanh nghiệp 
2.2.1.Doanh nghiệp cần đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ chủ chốt trong doanh nghiệp 9
2.2.2. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội 
2.3. Giải pháp với bản thân từng người lao động 
2.3.1. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật 
2.3.2.Về thể lực và năng lực phẩm chất cá nhân 
Kết luận
Lời nói đầu
Mỗi một đất nước muốn phát triển có thể có nhiều con đường nhiều cách khác nhau nhưng không thể tách rời các nguồn lực của quốc gia đó, các quốc gia luôn luôn phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn lực cho phát triển không chỉ về số lượng mà còn về cả chất lương. Mặt khác thì nguồn lực của mỗi đất nước lại khác nhau do đó mà trình độ phát triển của mỗi một quốc gia lại khác nhau bao gồm nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất. nguồn lực con người…Trong số các nguồn lực trên thì nguồn lực con người là nhân tố quan trọng nhất, là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm, bền vững hay không bền vững. Một nền kinh tế dựa nhiều vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tạo nhiều công ăn việc làm, giải quyết tốt hơn các quan hệ xã hội, cải thiện đời sống con người,… Hiện nay nguồn nhân lực Việt Nam đã và đang có nhiều những lợi thế so với các quốc gia khác điển hình như nguồn nhân lực trẻ, số lượng đông và ngày một tăng, giá nhân công rẻ,cơ cấu dân số lại đang trong thời kỳ dân số vàng, chất lượng đang dần được cải thiện nó được thể hiện qua xếp hạng chỉ số phát triển con người, và sự tích cực khi tham gia vào việc phát triển chung của đất nước. Nhưng bên cạnh đó nguồn nhân lực Việt Nam còn vấp phải những hạn chế như chất lượng lao động còn hạn chế, trình độ chuyên môn lành nghề còn chưa cao, hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra ngày một tăng cao, mặt khác dân số nước ta đang bước vào thời kỳ già hóa dân số chính vì vậy nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển của quốc gia trong những năm tới. 
Chính vì tính bức thiết của việc phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay  nên em đã chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam ” nhằm đánh giá các lợi thế cũng như thách thức và xu hướng phát triển qua đó đề ra giải pháp giúp cải thiện những mặt hạn chế đó đồng thời phát huy những điềm mạnh của nguồn nhân lực nước ta. Nhằm mục tiêu phát triển đất nước thêm giàu mạnh hơn trong thời buổi các quốc gia trên thế giới đang phát triển với tốc độ nhanh chóng như vũ bão thì điều này là rất cần thiết và là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu.
Chương 1. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
1.1. Một số đặc điểm dân số Việt Nam hiện nay
 Nước ta được xếp vào một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới cùng với đó là số lượng dân số tăng nhanh qua các năm.Hiện nay dân số Việt  Nam đã đạt gần 87 triệu người , nước ta xếp thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số. Mật độ dân số nước ta gấp đôi thế giới, gấp 6lần mật độ mà các nhà khoa học thế giới cho là hợp lý.Trong đó dân số thành thị là 25,6 triệu người chiếm 29,4% tổng dân số và dân số nông thôn là 61,4 triệu lao động chiếm 70,65. Mặc dù dân thành thị hiện chiếm 29,4% tổng dân số ở Việt Nam nhưng lại đang tăng nhanh với tốc độ trung bình 3,4%/năm. Khu vực miền Đông Nam Bộ là nơi có mức đô thị hóa cao nhất. Nguyên nhân chính là do thị trường lao động mở rộng. Hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có 43% số dân của cả nước sinh sống. Ngược lại, hai vùng trung du và miền núi phía bắc và Tây Nguyên chỉ chiếm dưới một phần năm (gần 19%) số dân của cả nước. Mật độ dân số khác biệt rất lớn giữa các vùng, vùng có mật độ đông dân nhất gấp mười lần vùng có mật độ dân số thấp nhất. Ðây là những thách thức rất lớn không những cho việc phát triển kinh tế – xã hội mà còn rất khó cho việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội.
1.2. Lợi thế nguồn nhân lực Việt Nam
Với một số lượng dân số đông như hiện nay đã cung cấp cho thị trường lao động nước ta một  số lượng nguồn nhân lực khá dồi dào đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguồn nhân lực cho nền kinh tế đặc biệt là các khu công nghiệp, khu chế suất đang cần rất nhiều nguồn nhân lực cho việc phát triển cũng như mở rộng quy mô sản xuất. Không chỉ vậy mà cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế  đã làm cho thu nhập của người dân tăng cao góp phần thúc đẩy chất lượng nguồn nhân lực nước ta và đồng thời nó cũng là nguyên nhân tạo ra sự thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực.
1.2.1. Lợi thế về số lượng
Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tính đến tháng 4/2012, cả nước có 68,7 triệu lao động trên tổng số 85 triệu dân, đứng thứ 2 trong khu vực và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số cũng như số lượng nguồn nhân lực. Lợi thế mà nguồn nhân lực VN có được hơn các quốc gia khác là sức trẻ, số lượng lao động trong độ tuổi lao động là lớn. Số lượng lao động đang làm việc trong 20 năm qua đã tăng gần 1 triệu người/năm, với số người được giải quyết việc làm cao gấp rưỡi số đó. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ trên dưới 13% xuống còn dưới 4,5%
1.2.2 Lợi thế về chất lượng
Thông qua chỉ số phát triển con người (chỉ số HDI) để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực người ta. Hiên nay chỉ số HDI của Việt Nam đang liên tục tăng cao qua các năm .
1.3. Chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, cùng với đó là sự phân bổ không hợp lý.
Chất lượng cuộc sống
Tuổi thọ bình quân  cao 72,8 năm nhưng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại chỉ là 66 năm, xếp thứ 116 trong số 164 nước. Số lượng người khuyết tật khá lớn, tỷ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ vẫn đang tiếp tục gia tăng. Cùng đó là nhiễm khuẩn về đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS rất đáng lo ngại. Ngoài ra các vấn đề của nhóm dân số 15  đến 24 (lứa tuổi vị thành niên, thanh niên) có những thay đổi, làm cản trở việc cải thiện chất lượng dân số như quan hệ tình dục trước hôn nhân, nạo phá thai, lạm dụng chất gây nghiện (thuốc lá, rượu bia…) có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, thanh, thiếu niên  còn nhiều hạn chế về tầm vóc, thể lực. Chiều cao, cân nặng và sức bền còn thấp xa so với nhiều nước trong khu vực…  
Về chuyên môn kỹ thuật:
Hiện nay trong số lao động trong nhóm 15-34 tuổi, số người không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 84%. Xét trong tổng lực lượng lao động, tỷ lệ lao động trẻ có CMKT thấp hơn so với lao động có CMKT nói chung của cả nước (16% so với 26%). Như vậy có thể nói, chất lượng lao động trẻ (dưới giác độ CMKT) ở nước ta chưa cao, ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu những tiến bộ về khoa học và công nghệ vào trong các lĩnh vực cuả nền kinh tế quốc dân.
1.4. Vấn đề già hóa dân số
Ðáng chú ý, nước ta đang phải đối mặt với  vấn đề  già hóa dân số với tốc độ ngày càng nhanh. Theo kết quả sơ bộ TÐTDS 2009, tỷ lệ người cao tuổi hơn 9%. Tuổi thọ bình quân chung là 72,8 tuổi. Tuổi thọ bình quân của Việt Nam đang tăng nhanh so sánh giữa hai cuộc TÐTDS 1999 và 2009, tuổi thọ bình quân của nam tăng 3,7 tuổi từ 66,5 tuổi lên 70,2 tuổi. Nữ tăng 5,5 tuổi từ 70,1 tuổi lên 75,6 tuổi. Số cụ hơn 100 tuổi tăng gấp hai lần so với TÐTDS 1999 (khoảng 7.200 cụ). Theo dự báo nước ta bước vào già hóa dân số vào năm 2015, nhưng thực tế là ngay từ những năm 2010. Theo phân tích và nhận định của các nhà nhân khẩu học kinh tế trong và ngoài nước, cơ cấu dân số Việt Nam đã bước vào giai đoạn “Cơ cấu dân số vàng” hay ” cửa sổ cơ hội dân số” hoặc “dư lợi dân số”. 
1.5. Hiện tượng chảy máu chất xám
Hiện nay hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra một cách rất phổ biến. Có nhiều hình thức biểu hiện khác mà chính hiện tượng này đã làn ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ máy quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân mà điển hình là một số dạng sau:
Thứ nhấtNhững trí thức có khả năng, có năng lực, được đào tạo bài bản, đang công tác tại các cơ quan đầu não nhà nước chuyển ra làm việc cho các công ty ngoài quốc doanh, công ty 100% vốn nước ngoài. Tình hình này xảy ra phổ biến trong những năm qua. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là nhu cầu được trả lương cao. Ở các công ty ngoài quốc doanh, mức lương trả cho cán bộ cao gấp nhiều lần so với mức lương nhà nước trả cho họ. Sự hấp dẫn của đồng lương đã kích thích sự dịch chuyển này
  Thứ hai: Hiện tượng một số cán bộ đang công tác tại các vụ, viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ quan nhà nước nhưng lại làm bán thời gian cho các tổ chức, các công ty nước ngoài cũng có thể được coi là chảy máu chất xám. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng đã được khắc phục phần nào sau khi Pháp lệnh về Cán bộ công chức được ban hành.
Thứ ba: Chảy máu chất xám diễn ra ở các đối tượng sinh viên cao đẳng đại học và học sinh trung học chuyên nghiệp. Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại ưu không chấp nhận ở lại trường, hoặc về công tác tại các vụ, viện, trung tâm nghiên cứu. Nhiều học sinh trung học chuyên nghiệp có tay nghề cao sau khi ra trường cũng có hiện tượng tương tự.
Thứ tư: Một số trí thức công tác tại các cơ quan khoa học đầu não được cử đi học tập hoặc công tác ở nước ngoài, nhưng sau đó lại ở lại nước đó làm việc theo đúng chuyên môn đã được đào tạo.
Chương 2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 
Việt Nam
2.1. Các giải pháp xét trên góc độ vĩ mô
2.1.1  Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. 
Chất lượng con người, trước hết, phải tính đến vấn đề chất lượng sinh nở.Chính vì vậy mà ngành y tế phải có những quy định cụ thể về chất lượng sinh nở như kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, tính di truyền,… Khi có chất lượng con người thì chúng ta phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống, có nghĩa là phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần của con người sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực dồi dào, có trí tuệ minh mẫn. Về vấn đề này, Việt Nam còn kém xa so với nhiều nước. 
         2.1.2  Phải khai thác, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng  nguồn nhân lực một cách có hiệu quả
Cần có các biện pháp giải quyết các vấn đề về khai thác, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng  nguồn nhân lực hiện tại cũng như các vấn đề trước mắt để có các giải pháp khắc phục nhanh chóng và hiệu quả qua đó tạo ra lợi thế cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực cũng như trên thế giới.Cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn đối với việc việc sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trọng dụng các nhà khoa học và chuyên gia thật sự có tài năng cống hiến cho quốc gia.
         2.1.3 Đầu tư vào giáo dục đào tạo
Nhà nước cần phải nhanh chóng cải cách hệ thống giáo dục đào tạo từ Trung ương tới cơ sở, nhất là về mặt nội dung phương pháp đào tạo đặc biệt là các lĩnh vực mang tính chiến lược như  kinh tế, giáo dục, công nghệ thông tin, kỹ thuật thông qua các biện pháp như  đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng các phương tiện dạy và học, cũng như các biện pháp giảng dạy và học tập mới … Tránh tình trạng đầu tư dàn trải dẫn đến lãng phí nguồn lực của quốc gia…Nhà nước cần hỗ trợ đầu tư kinh phí thỏa đáng cho đào tạo nguồn nhân lực chất xám. Giáo dục phải thực sự được xem là quốc sách hàng đầu, là ngành công nghiệp mũi nhọn. vì nó sẽ sản sinh ra sản phẩm chất xám là sản phẩm có vai trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập hiện nay
2.1.4 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân
Làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta và trên thế giới. Thông qua việc mở những đợt tuyên truyền rộng rãi, thấm sâu vào lòng người về vai trò của nguồn nhân lực, chất lượng sinh, sống, thông tin về học tập, giáo dục ngành nghề trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, học sinh. Qua đó đó lên phong trào học tập, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
2.1.5 Về thể chế 
Nhà nước cần  đầu tư một cách thích đáng có trọng tâm trọng điểm vào việc thực hiện tốt các chính sách như chính sách hướng nghiệp, chính sách dạy nghề, học nghề, chính sách quản lý nhà nước về dạy nghề, học nghề; chính sách dự báo nhu cầu lao động và cân đối lao động theo ngành nghề, cấp trình độ; chính sách thu hút các thành phần kinh tế tích cực tham gia vào lĩnh vực tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính sách chi ngân sách để đào tạo nguồn nhân lực; chính sách đối với các tổ chức NGO có liên quan đến vấn đề nhân tài, nhân lực; chính sách đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài và thu hút các thành phần kinh tế tham gia đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; chính sách bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân, công nhân, trí thức, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.  
2.2. Giải pháp từ góc độ của doanh nghiệp
2.2.1.Doanh nghiệp cần đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ chủ chốt trong doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải đầu tư phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn vì đây là lực lượng quyết định đến thành công hay thất bại của một doanh nghiệp trên thương trờpng. Qua đó đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề.
2.2.2. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội
Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức. Doanh nghiệp cũng cần chủ động trong vấn đề tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao cho mình bằng cách đặt hàng cơ sở đào tạo, chủ động trao đổi, bàn bạc với các cơ sở đào tạo về nội dung, phương pháp đào tạo, kiến thức chuyên ngành, chủ động kết hợp giữa kiến thức và thực hành
2.3. Giải pháp với bản thân từng người lao động
2.3.1. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật 
Họ phải thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, có năng lực tiếp thu, chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại, những tinh hoa của văn hoá, văn minh thế giới, những di sản văn hoá dân tộc và văn hoá phương Đông vào thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành, nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.
2.3.2.Về thể lực và năng lực phẩm chất cá nhân
  Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Hơn nữa cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt.
Kết luận
Nhận thức về nguồn nhân lực của Việt Nam đang còn có những ý kiến khác nhau. Trên phương tiện thông tin đại chúng, người ta thường nói đến thế mạnh của Việt Nam là nguồn nhân công rẻ mạt và kêu gọi các nhà đầu tư hãy đầu tư vào Việt Nam vì Việt Nam có nguồn nhân công rẻ mạt. Một số người thì chưa đánh giá đúng về nguồn nhân lực của Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo về vấn đề này cũng chưa rõ ràng. Khả năng để tổ chức khai thác nguồn nhân lực còn bất cập đã hạn chế rất lớn đến quá trình phát triển của quốc gia.Và ngày nay vấn đề phát triển nguồn nhân lực không còn là nhiệm vụ của riêng cá nhân nào nữa mà nó đã và đang được toàn xã hội cũng như toàn thế giới quan tâm và đặt lên vị trí quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ phát triển của đất nước nói chung và của từng doanh nghiệp cũng như của mỗi cá nhân nói riêng.Biết đi đúng hướng và có một chiến lược rõ ràng trong từng giai đoạn, từng thời kỳ tạo điều kiện cho chúng ta nhanh chóng đưa đất nước phát triển, gia tăng chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân.  Qua các phân tích cũng như đánh giá trên chúng ta đã thấy những nỗ lực và sự thành công đã đạt được của Việt Nam trong những năm qua nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế còn cần được giải quyết mà nguồn nhân lực nước ta đang gặp phải, cũng như xu hướng phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới.Nó đã cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát nhất về nguồn nhân lực trong nước qua đấy nhằm tìm ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.Trong đó nhà nước giữ một vai trò hết sức to lớn trong việc định hướng cũng như đầu tư cho việc phát triển nguồn nhân lực, cùng với những nỗ lực của bản thân người lao động, của lớp trẻ ngày nay.
Liên hệ viết bài:

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *