Điểm mới của luật công chứng 2014 trong các quy định về tổ chức hành nghề công chứng

Rate this post
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1. Những vấn đề lý luận về tổ chức hành nghề công chứng 1
1.1. Khái niệm 1
1.2. Nguyên tắc thành lập tổ chức hành nghề công chứng 2
2. Đánh giá điểm mới của luật công chứng 2014 về tổ chức hành nghề công chứng 2
3. Thực tiễn hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và kiến nghị đề xuất 4
3.1. Thực tiễn hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng 4
3.1.1. Kết quả đạt được 4
3.1.2. Hạn chế, bất cập 5
3.2. Kiến nghị đề xuất về tổ chức hành nghề công chứng 7
KẾT LUẬN 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
MỞ ĐẦU
Công chứng là hoạt động pháp lý quan trọng liên quan mật thiết đến quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp, đồng thời cũng là những công cụ phục vụ đắc lực cho công tác quản lý của Nhà nước. Luật công chứng sửa đổi được ban hành đã có những điểm mới quan trọng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong hoạt động công chứng, bảo đảm tốt hơn cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công chứng trong điều kiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin tìm hiểu đề tà: “Điểm mới của luật công chứng 2014 trong các quy định về tổ chức hành nghề công chứng.”
NỘI DUNG
1. Những vấn đề lý luận về tổ chức hành nghề công chứng
1.1. Khái niệm
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Luật công chứng năm 2014 thì công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Tổ chức hành nghề công chứng được quy định tại khoản 4 điều này bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
1.2. Nguyên tắc thành lập tổ chức hành nghề công chứng
Theo quy định tại Điều 18 Luật công chứng sửa đổi năm 2014 việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải tuân theo quy định của Luật này và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Phòng công chứng chỉ được thành lập mới tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng công chứng. Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ.
2. Đánh giá điểm mới của luật công chứng 2014 về tổ chức hành nghề công chứng
Ngày 20/6/2014, Luật công chứng (sửa đổi) số 53/2014/QH13 đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7 với tỷ lệ 90,16% đại biểu Quốc hội tán thành trên tổng số 90,56% đại biểu Quốc hội tham dự Kỳ họp (Gọi tắt là Luật).  Luật bên cạnh kế thừa các nội dung từ Luật Công chứng năm 2006, đã có một số điểm mới về tổ chức hành nghề công chứng như: 
– Được phép chuyển đổi văn phòng công chứng:
Luật Công chứng năm 2014 đã quy định:  “Trong trường hợp không cần thiết duy trì phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Chính phủ quy định cụ thể việc chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng” (Khoản 1 Điều 21).  
– Số lượng công chứng viên trong văn phòng công chứng:
Luật Công chứng sửa đổi quy định tại Điều 22 “phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên”. Quy định này nhằm duy trì hoạt động của văn phòng trong trường hợp công chứng viên trưởng văn phòng ốm đau, bị tai nạn hoặc vì các lý do cá nhân khác mà không thể hành nghề công chứng trong một thời gian nhất định như thực tế đã từng xảy ra.  
– Tên gọi văn phòng công chứng:
Luật công chứng 2014 quy định về tên gọi văn phòng công chứng tại khoản 3 Điều 22. Theo đó, tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Như vậy, so với quy định tại Điều 26 luật công chứng 2006 thì tên gọi của văn phòng công chứng đã được quy định chi tiết, cụ thể hơn.
– Chuyển nhượng văn phòng công chứng: 
Điều 29 Luật Công chứng sửa đổi năm 2014 quy định văn phòng công chứng được chuyển nhượng cho các công chứng viên khác khi: Công chứng viên nhận chuyển nhượng văn phòng công chứng đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên đối với người dự kiến sẽ tiếp quản vị trí trưởng văn phòng công chứng; cam kết hành nghề tại văn phòng công chứng mà mình nhận chuyển nhượng; cam kết kế thừa quyền và nghĩa vụ của văn phòng công chứng được chuyển nhượng. 
Tuy nhiên, điều luật cũng quy định công chứng viên đã chuyển nhượng văn phòng công chứng không được phép tham gia thành lập văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng văn phòng công chứng.  Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục chuyển nhượng văn phòng công chứng.
Ngoài ra, văn phòng công chứng có quyền thuê công chứng viên làm việc theo hợp đồng, được chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập…. Tổ chức hành nghề công chứng có quyền cung cấp dịch vụ công chứng ngoài ngày, giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước, có quyền ký hợp đồng với công chứng viên….. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên là loại hình bảo hiểm bắt buộc… 
3. Thực tiễn hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và kiến nghị đề xuất
3.1. Thực tiễn hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng
3.1.1. Kết quả đạt được
Luật công chứng 2014 ban hành đã thực hiện khá tốt việc xã hội hóa hoạt động công chứng. Các tổ chức công chứng bao gồm Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng đã có mặt rộng khắp các tỉnh, thành trên đất nước ta góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có nhu cầu công chứng. Bên cạnh đó, các tổ chức công chứng cũng thuận tiện hơn trong việc công chứng cho người dân. Tính đến ngày 22 tháng 9 năm 2014, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 52 tổ chức hành nghề công chứng.  Tại Hà Nội, các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập ở cấp thành phố, quận, huyện, xã để phục vụ nhu cầu của người dân một cách thuận lợi, dễ dàng nhất như Phòng công chứng số 1 TP.Hà Nội số 310 Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng; Phòng công chứng số 3 tại Lô D, ô đất D11, Khu đô thị mới quận Cầu giấy, phường Dịch vọng hậu, quận Cầu giấy; Phòng công chứng số 10 TP. Hà Nội tại huyện Ba Vì,… 
Một số tổ chức hành nghề công chứng đã có sự quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đáp ứng yêu cầu hoạt động; thực hiện việc lưu trữ hồ sơ công chứng khá khoa học, gọn gàng. Các tổ chức đều đã thực hiện đóng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho 100% công chứng viên và thực hiện tương đối nghiêm các quy định của pháp luật về  tiền lương, bảo hiểm cho người lao động, đồng thời chấp hành nghiêm nghĩa vụ về thuế theo quy định pháp luật. Phòng Công chứng đã thực hiện nghiêm chế độ thu, quản lý, nộp phí công chứng và sử dụng phần được trích lại. Hoạt động của tổ chức công chứng mang lại hiệu quả cao. Ví dụ: Kết quả qua 8 năm thi hành Luật Công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tiếp nhận và giải quyết được 117.001 việc, số phí công chứng thu được: 17.952.449.384 đồng, đã nộp ngân sách và nộp thuế: 6.387.349.952 đồng. 
3.1.2. Hạn chế, bất cập
Thứ nhất, cơ cở vật chất của một số tổ chức hành nghề công chứng còn chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động (trụ sở làm việc đã xuống cấp, thiết kế chưa phù hợp, phòng lưu trữ hồ sơ quá tải… ), chưa bố trí hợp lý nơi tiếp công dân, phòng làm việc của Công chứng viên, của nhân viên, chưa bố trí kho lưu trữ hồ sơ công chứng. Tại trụ sở của một số tổ chức còn niêm yết biểu thu thù lao công chứng chưa phù hợp với quy định của Luật Công chứng. (Văn phòng Công chứng Hùng Vương, Bảo Tín, Sông Lô, Huy Hoàng), nhân lực của Phòng còn thiếu ổn định. 
Thứ hai, trong thực hiện trình tự, thủ tục công chứng còn có tình trạng thiếu chặt chẽ, chưa thật sự đảm bảo tính xác thực của hợp đồng, giao dịch (một số công chứng viên chưa quan tâm tới tính đích thực của đối tượng hợp đồng, giao dịch; chưa xác định đúng chủ thể có quyền, nghĩa vụ ký kết hợp đồng, giao dịch; còn có trường hợp công chứng viên không trực tiếp chứng kiến việc ký vào văn bản hợp đồng, giao dịch của người yêu cầu công chứng theo quy định pháp luật…). Một số tổ chức hành nghề đã có văn bản công chứng bị Toà án tuyên bố vô hiệu.
Thứ ba, một số tổ chức hành nghề chưa sử dụng sổ công chứng hợp đồng giao dịch theo mẫu quy định tại Thông tư số 11/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng; còn có tình trạng tẩy xoá, ghi chưa đầy đủ các cột mục trong sổ công chứng hợp đồng giao dịch.
Thứ tư, một số tổ chức sử dụng con dấu chưa đúng theo mẫu được quy định tại Thông tư 21/2012/TT-BCA ngày 13/4/2012 của Bộ Công an quy định về con dấu của các cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước. Ví dụ:  Văn phòng Công chứng: Vĩnh Phú, Kim Minh, Hùng Vương, Bảo tín thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
Nguyên nhận của những hạn chế, bất cập trên là do thể chế về công chứng còn chưa đồng bộ, thống nhất với nhau; chất lượng đào tạo nghề, chất lượng công tác tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ công chứng viên còn chưa đáp ứng yêu cầu; nhận thức pháp luật về công chứng ở một số cán bộ, công chức các ngành, các cấp, ở một bộ phận người dân, cộng đồng doanh nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức về vai trò của công chứng trong đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự. Mặt khác, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về công chứng chưa được thực hiện thường xuyên. Chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức công chứng nhìn chung còn chưa đáp ứng yêu cầu. Mối quan hệ phối hợp giữa các tổ chức hành nghề công chứng với chính quyền địa phương cấp xã, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, ngân hàng và các cơ quan, tổ chức có liên quan còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.
3.2. Kiến nghị đề xuất về tổ chức hành nghề công chứng
Thứ nhất,chủ động triển khai Luật Công chứng năm 2014; các Văn phòng Công chứng tổ chức, hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân sớm có kế hoạch chuyển đổi sang tổ chức, hoạt động theo mô hình công ty hợp danh để đảm bảo phù hợp với Luật mới.
Thứ hai, nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa tới việc đảm bảo cơ sở vật chất, bố trí hợp lý trụ sở văn phòng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động công chứng.
Thứ ba, tăng cường tổ chức cho công chứng viên nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề công chứng. Đồng thời rà soát việc thực hiện trình tự, thủ tục công chứng; hồ sơ lưu trữ; sổ công chứng hợp đồng, giao dịch; bảng biểu niêm yết về mức thu phí, thù lao công chứng để phát hiện, khắc phục những hạn chế, bất cập trong hoạt động của tổ chức hành nghề, nâng cao tính chuyên nghiệp, sức cạnh tranh của tổ chức hành nghề;
Thứ tư, tăng cường quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan trên địa bàn các tỉnh, thành phố, biệt là UBND các xã, phường, thị trấn, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, các ngân hàng thương mại.
Thứ năm,bảo đảm quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật và đối chiếu mẫu con dấu đang sử dụng của tổ chức mình với mẫu con dấu quy định tại Thông tư 21/2012/TT-BCA của Bộ Công an để kịp thời làm thủ tục cấp đổi đảm bảo đúng quy định pháp luật.
KẾT LUẬN
Việc ban hành Luật Công chứng sửa đổi góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, qua đó nâng cao chất lượng cũng như tính bền vững của hoạt động công chứng và từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế. Do vậy, đòi hỏi các tổ chức hành nghề công chứng cần năng động, nhiệt tình hơn nữa trong hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu, lợi ích của người dân cũng như việc phát triển hoạt động công chứng ngày một tiến bộ hơn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật công chứng năm 2014
2. Luật công chứng năm 2006.
3. Nguyễn Thanh Bình, Công chứng, luật sư, giám định tư pháp, hộ tịch, Hà Nội, 1997;
4. http://baophapluat.vn/su-kien/nhung-diem-moi-cua-luat-cong-chung-sua-doi-188296.html
5. Báo cáo số 32/BC –HĐND kết quả khảo sát về tình hình tổ chức hoạt động luật sư, công chứng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ngày 19/8/2014.
6. http://www.sotuphap.hochiminhcity.gov.vn/to-chuc-hanh-nghe-cc/Lists/Posts/Post.aspx?List=083510bd-ad39-4456-867f-91341c25f78f&ID=3.
7. http://sotuphap.hanoi.gov.vn/Portalview/chitiettimkiem.aspx?portalid=1
8. http://www.binhthuan.gov.vn/wps/portal/stp_root/home/tintuc/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3hfRxMDTyNnA3cLPzdDA88woxBfc89gQx9zA_2CbEdFAMfMzTk!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbn_tp_vi/sbn_tp/kho_noi_dung/tin_tuc/tin_tuc_chung/41a0fe80453a7e44a745ef6823d33bfa
Dịch vụ viết thuê tiểu luận uy tín chuyên nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *