I. Mở đầu.
II. Nội dung.
1. Điều kiện tự nhiên và xã hội để đưa ra những quan điểm triết học tây âu thời kỳ XVII-XVIII.
2. Đặc điểm triết học tây âu thế kỷ XVII-XVIII.
3. Quan điểm của con người trong triết học thế kỷ( XVII-XVIII) qua một số triết gia tiêu biểu.
3.1 Quan điểm triết học của Phranxis Bêcơn (1561-1621).
3.2.quan điểm triết học của Tômát Hôpxơ (1588-1679).
3.3 quan điểm triết học của Rơnê Đêcáctơ (1596-1654)
3.4. quan điểm triết học của Giooc Beccơli (1685-1753)
3.5. quan điểm triết học của Điđơrô và các nhà triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII.
4. Ý nghĩa của triết học tây âu thế kỷ ( thế kỷ XVII-XVIII) đối với việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.
III. KẾT LUẬN.
I. MỞ ĐẦU.
Triết học tây âu cận đại thế kỷ XVII-XVIII là thời kỳ những cuộc cách mạng tư sản bắt đầu ở Hà lan, sau đến anh, pháp,ý, áo…. Và đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học tây âu. Sự phát triển của lực lượng sản xuất mới làm cho quan hệ sản xuất phong kiến trở lên lỗi thời và mâu thuẫn giữ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở len gay gắt là nguyên nhân là nguyên nhân kinh tế của những cuộc cách mạng thời kỳ này.những đòn giáng mạnh nhất vào chế độ phong kiến tây âu là cuộc cách mang tư sản anh (giữa thế kỷ XVII) và cách mạng tư sản pháp (cuối thế kỷ XVIII). Theo lời mác nó là những cuộc cách mạng có quy mô toàn châu âu, đánh dấu thắng lợi của một cuộc cách mạng mới xóa bỏ trật tự phong kiến cũ. Thời kỳ này cuãng là thời kỳ phát triển của khoa học kỹ thuật do nhu cầu của sự phát triển sản xuất. tất cả cái đó làm tiền đề phát triển triết học mới với nhiều đại biểu nổi tiếng.
Cùng với sự tìm hiểu tự nhiên và cuộc sống xã hội, kể từ khi loài người ra đời, một vấn đề luôn được đặt ra là tìm hiểu chính bản thân mình. Ngay từ thời kỳ tiền triết học, vấn đề này đã được đề cập qua các tôn giáo nguyên thủy, các truyền thuyết, thần thoại, sử thi, anh hùng ca và việc thờ cúng tổ tiên. Đó là những quan niệm còn mang nặng tính thần bí, siêu hình. Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào thế kỷ VI Trước Công Nguyên đã đánh dấu bước phát triển mới của tư tưởng con người, từ cảm nhận vũ trụ trực quan đến thế giới quan mang tính khái quát, trừu tượng của tư duy. Các trường phái triết học Hy Lạp giai đoạn này có nhiều quan điểm khác nhau, song đều rất quan tâm đến bản chất, nguồn gốc của thế giới, vạn vật và con người. Bước vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, các nhà triết học quan tâm nhiều hơn đến vấn đề sinh vật, con người và linh hồn con người. Vào thế kỷ VII và VI TCN, phái duy vật sơ khai cho rằng con người là một bộ phận của tự nhiên, hòa đồng với tự nhiên và vũ trụ. Bên cạnh đó, trường phái Pytago mở đầu cho khuynh hướng triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại, quan niệm rằng linh hồn con người là bất tử, chỉ tạm trú trong cơ thể các sinh vật và con người. Còn các nhà nguyên tử luận thì lại cho rằng sự sống không phải do thần thánh tạo ra mà cấu tạo từ nguyên tử và linh hồn cũng mang tính vật chất. Điểm qua các quan điểm của Xôcrát, Platôn, tác giả khẳng định triết học Hy Lạp đạt tới đỉnh cao nhất ở thời Arixtốt. Ông khẳng định “linh hồn là bản nguyên của cơ thể sống…, của vận động”.
Bước sang thời kỳ thứ hai, đặc điểm nổi bật cần phải chú ý đó là sự hình thành của một tôn giáo mới: Cơ đốc giáo và trở thành quốc giáo ngay trong thời kỳ đế quốc La mã. Về cơ bản, hệ thống quan điểm triết học của Cơ đốc giáo về con người tập trung nói về sự sáng tạo ra thế giới của đức Chúa Trời, về tội tổ tông của con người, sự chuộc tội, sự chăn dắt của Chúa đối với con người, sự phục sinh sau khi chết ở thế giới bên kia. Cần phải nhắc đến hai tên tuổi mở đầu cho thời kỳ từ Phục hưng đến thời kỳ cận đại là Ni-cô-lai Kuzan và Ni-cô-lai Cô-péc-ních. Kuzan là người đầu tiên kịch liệt phê phán giáo lý thời Trung cổ, mở đầu cho thời kỳ Phục hưng. Con người – theo ông – là sản phẩm tối cao và tinh túy nhất trong sự sáng tạo của Thượng đế – Con người (Deus – Human). Nối tiếp Kuzan, Cô-péc-ních đã làm đảo lộn hoàn toàn nhận thức đương thời bằng thuyết nhật tâm. Vào thế kỷ XIV – XV, các nhà nhân văn chủ nghĩa Ý đã làm đảo lộn vũ trụ quan và nhân sinh quan của Ki tô giáo: con người không lấy Thượng đế mà là chính mình làm trung tâm và thước đo của tất cả mọi vật. Bước vào thế kỷ XVI, những nhà tư tưởng tiến bộ mong muốn xây dựng một xã hội mới phồn vinh, thịnh vượng, đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi người. Tuy vẫn chỉ là những quan niệm mang tính chất không tưởng nhưng những tư tưởng này đã mang đậm tính chất nhân văn sâu sắc.
II. NỘI DUNG.
1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ (XVII-XVIII)
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ. Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện. Cuối cùng, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy vật – tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo.
Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tư tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những đặc điểm mới.
Khác với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kì giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấp phong kiến. Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ XVI ; Cách mạng tư sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794). Đây cũng là thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu. Nó tạo đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển. Đặc điểm của khoa học tự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên – thực nghiệm. Đặc trưng ấy tất yếu dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển, nếu có nói đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc siêu hình.
2. Đặc điểm của triết học Tây Âu thẾ KỶ (XVII-XVIII)
Chính những điều kiện kinh tế – chính trị và khoa học tự nhiên thời cận đại đã quy định những đặc trưng về mặt triết học thời kì này:
Thứ nhất, đây là thời kì thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duy tâm, của những tư tưởng vô thần đối với hữu thần luận.
Thứ hai, chủ nghĩa duy vật thời kì này mang hình thức của chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc. Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực tư duy triết học và khoa học.
Thứ ba, đây là thời kì xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh vực xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải thích xã hội và lịch sử.
Những đặc điểm ấy thể hiện rõ nét trong quan niệm của một số triết gia, điển hình như B.Xpinôda, Ph.Bêcơn. T.Hôpxơ, R.Đêcactơ, G.Lamettri, Đ.Điđơrô, P.Hônbách, G.G.Rutxô.
Thứ tư, trước sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng duy vật vô thần của thời cận đại, chủ nghĩa duy tâm và thần học buộc phải có những cải cách nhất định. Nhu cầu ấy được phản ánh đặc biệt trong triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học thần học người Anh G.Beccơli.
3. QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC THẾ KỶ( XVII-XVIII) QUA MỘT SỐ TRIẾT GIA TIÊU BIỂU.
Con người là sản phẩm của lao động, chính do lao động và nhờ có lao động con người cần trao đổi thông tin với nhau mà ngôn ngữ hình thành, ý thức hình thành, sự giao tiếp, văn hoá, các quan hệ giữa người với người, quan hệ xã hội hình thành; con người chịu sự tác động, chi phối của môi trường và các quy luật xã hội; con người có các nhu cầu xã hội như: giao tiếp, thẩm mỹ, chính trị, an toàn, biết tự trọng và muốn được kính trọng, tự sáng tạo và tự hoàn thiện bản thân,. Những nhu cầu này rất khác nhau giữa những con người cụ thể, phụ thuộc vào điều kiện sống, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, đặc tính của mỗi cá nhân, trình độ văn hoá của mỗi người. Một khi nhu cầu bậc thấp được thoả mãn thì nhu cầu ở bậc cao hơn sẽ xuất hiện. Các nhà quản lý xã hội và quản lý tổ chức cần phải tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của mỗi cá nhân người lao động và tìm cách đáp ứng các nhu cầu đó, nghĩa là tạo ra lợi ích cho người lao động để từ đó khơi dậy động lực lao động trong mỗi con ngươì.
3.1. Phranxis Bêcơn (1561-1621)
Phranxis Bêcơn (Francis Bacon) là nhà triết học vĩ đại thời cận đại. C.Mác coi Ph.Bêcơn là ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm. Bắt đầu từ Ph.Bêcơn, lịch sử triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn phát triển mới với những màu sắc riêng.
Becon đặt cho triết học của mình nhiệm vụ tìm kiếm con đường nhận thức sâu sắc giới tụ nhiên. Ông đặc biệt đề cao vai trò của tri thức của con người. ông nói: tri thức của con người là sức mạnh mà thiếu nó, con người không thể chiếm lĩnh của cải của giới tự nhiên.ông phê phán phương pháp triết học của những nhà triết học trung cổvà chỉ biết ra sự thông thái của mình từ chính bản thân mình, muốn thay thế viecj nghien cứu giới tự nhiên và những quy luật của nó bằng những luận điểm trừu tượng, bằng việc rút ra kết quả riêng từ những kết luận chung chung, không tính đến sự tồn tại thực tế chúng. Ông gọi phương pháp ấy của họ là phương pháp con nhện.
Ph.Bêcơn coi con người là sản phẩm cuả tạo hoá, do vậy khoa học về con người cũng là khoa học về tự nhiên. Tiếp thu quan niệm của Arixtốt về con người, Ph.Bêcơn chia linh hồn thành các dạng “linh hồn thực vật”, “linh hồn động vật”, “linh hồn lý tính”. Hai phần đầu thuộc về linh hồn cảm tính, có cả ở thực vật và động vật. Trong con người, linh hồn cảm tính là một dạng chất lỏng, pha loãng trong cơ thể. Chúng vận động theo các dây thần kinh, tựa như các đường ống, tác động lên các giác quan, điều khiển chức năng sống của cơ thể. Bộ phận linh hồn này có thể bị huỷ hoại cùng cơ thể khi con người chết đi. Linh hồn lý tính có nguồn gốc từ Thượng đế. Đó là một khả năng kì diệu mà chúa đã ban cho con người, mang tính thần thánh. Vì con người có cả hai dạng linh hồn nên con người vừa rất gần với động vật lại vừa có cái gì đó siêu phàm, và do đó, bản chất con người không cho phép con người theo lập trường hoàn toàn vô thần. Con người cần có tôn giáo để vượt qua những lúc con người mềm yếu, bất lực. Tôn giáo mang lại cho con người niềm tin nhưng nhà thờ không được phép dùng các biện pháp chống lại các nhà vô thần, không được cản trở các hoạt động khoa học, nghệ thuật của con người.
Nhìn chung, quan niệm trên của Ph.Bêcơn thể hiện sự thoả hiệp giai cấp tư sản Anh thời đó với các vấn đề tôn giáo.
3.2. Tômát Hôpxơ (1588-1679)
Tômát Hôpxơ (Thomas Hobbs) là nhà triết học nổi tiếng, đại biểu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII, người có công cụ thể hoá và phát triển nhiều quan niệm duy vật của Ph.Bêcơn.
Theo T.Hôpxơ, vấn đề trung tâm của triết học là vấn đề con người. Các tác phẩm Về con người (1658), Về người công dân (1642)…của ông đều bàn về vấn đề này. Từ việc coi con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể đạo đức và tinh thần, ông chia triết học thành triết học tự nhiên và triết học đạo đức, hay còn gọi là triết học xã hội.
Nhìn chung quan điểm của hopxo về con người như một cơ thể sống mang tính siêu hình rõ rệt. dưới con mắt của ông, trái tim con người như lò xo, dây thần kinh là những sợi chỉ, còn khớp xương là các bánh xe làm cho cơ thể chuyển động
Con người, theo T.Hôpxơ là một thực thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội. Về bản tính tự nhiên, mọi người khi sinh ra đều như nhau, sự khác nhau nhất định giữa họ không lớn. Nhưng con người ai cũng có khát vọng và nhu cầu riêng của mình. Đây là tiền đề để con người làm điều ác. Mỗi người đều ích kỉ, vì lợi ích riêng của mình mà có thể chà đạp tất cả. “Con người là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn”. Mỗi người hành động trước tiên là “vì tính ích kỉ yêu bản thân mình chứ không phải vì xã hội, không phải vì lợi ích của người khác”. Vì thế mà đẩy loài người đến chiến tranh liên miên, gây ra bao nhiêu đau khổ và chết chóc. Công lý và khoa học về pháp quyền, bởi vậy, luôn luôn bị bác bỏ bởi những ngòi bút và thanh kiếm. Theo T.Hôpxơ, bản tính tự nhiên của con người đó là tính ích kỉ; trạng thái xã hội mà con người sống là “một cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”.
Tuy nhiên, theo T.Hôpxơ, “trạng thái tự nhiên” trên đây của con người ngày nay không còn nữa; nó tồn tại một cách trọn vẹn ở thời nguyên thuỷ xa xưa. Tư tưởng của T.Hôpxơ được Đácuyn áp dụng vào thế giới động vật và phát hiện ra quy luật đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên của các loài sinh vật. Sau đó những người theo chủ nghĩa Đácuyn xã hội truyền bá, áp dụng trở lại xã hội.
Quam niệm của T.Hôpxơ mặc dù chưa đánh giá đúng mức đặc trưng riêng của loài người so với loài vật, chưa thấy được bản tính xã hội, tính nhân loại của con người, nhưng nó mang những yếu tố hợp lý nhất định: Một mặt, nó cho thấy sự tương đồng nào đó giữa loài người và loài vật, mặt khác, nó chỉ ra rằng, chính lợi ích của các cá nhân là một trong những động lực trực tiếp của hoạt động của con người và phát triển của xã hội.
3.3. Rơnê Đêcáctơ (1596-1654)
Rơnê Đêcáctơ (Rene Descartes) là nhà triết học, nhà bách khoa toàn thư vĩ đại người Pháp. Có thể nói, cùng với Ph.Bêcơn, “Đêcáctơ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học” Tây Âu cận đại.
Ông khẳng định, con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác. Theo quan điểm nhị nguyên luận, ông hoàn toàn tách biệt thể xác và linh hồn, coi chúng có nguồn gốc từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn toàn tách biệt. Ông coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất của nó là tư duy, tồn tại không cần đến và không phụ thuộc vào bất kì một sự vật vật chất nào. Linh hồn là bất diệt, nó không bị phân huỷ khi con người chết. Con người có được là do Thượng đế ghép linh hồn vào thể xác. Cơ thể con người là chỗ trú chân tạm thời của linh hồn khi anh ta sống.
Decactơ đã đấu tranh chống triết học kinh viện thời trung cổ, phủ nhận uy quyền của nhà thờ tôn giáo. Ông muốn sáng tạo một phương pháp khoa học nhằm đề cao lý tưởng sức mạnh của con người giúp con người tránh những ý kiến thiên lệch, xác đinh được chân lý.
3.4. Giooc Beccơli (1685-1753)
Giooc Beccơli (George berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người Anh, đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan.
Cũng như các nhà duy tâm khác, G.Beccơli quan niệm con người bao gồm linh hồn và thể xác; linh hồn là cái quyết định. Thể xác thuộc về các vật thể tự nhiên, tức các cảm giác. Do vậy, thể xác tồn tại được là nhờ linh hồn cảm nhận nó. Thể xác phải tuân theo cái gậy chỉ huy của linh hồn.
Đối với linh hồn con người, G.Beccơli cho rằng, “tồn tại nghĩa là cảm nhận”. Có nghĩa là linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác mà trước hết là cảm nhận thể xác của con người.
3.5. Điđơrô và các nhà triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII
Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là một giai đoạn phát triển quan trọng trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học Tây Âu và thế giới. Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là sự kế tục và phát triển mới về chất các khuynh hướng tư tưởng bài trừ siêu hình học thế kỉ XVII, cũng như đánh giá lại các giá trị tuyền thống. Nó bắt đầu từ việc phê phán không thương tiếc các quan niệm cũ về thế giới và con người. Chính vì vậy mà triết học Khai sáng Pháp có nội dung cơ bản là duy vật, tiến bộ, nó đề cập nhiều đến tiến bộ xã hội, tự do của con người…
Cùng với sự hưng thịnh của văn hoá Pháp thời kì này, trên lĩnh vực tư tưởng có nhiều nhà khai sáng, họ vừa là các nhà triết học, vừa là những người uyên bác về nhiều lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học. Tiêu biểu là Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775), Phrăngxoa Mari Vônte (1694-1778), Giăng Giắc Rutxô (1712-1778), Đeni Điđrô (1713-1784), Giulen Ôphrơ Lamettri (1709-1751), Hônbách (1729-1789), Henvêtiúyt (1715-1771)… Ở đây chỉ đề cập đến tư tưởng triết học của các nhà duy vật vô thần Pháp mà người giữ vai trò lãnh đạo là Đ.Điđrô.
Đ.Điđrô cho rằng con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn không có nguồn gốc từ chúa mà là một tổng thể các hiện tượng tâm lý. Bản thân nó cũng là đặc tính của vật chất. Ông viết: “Không có cơ thể con người thì nó (tức linh hồn) không là cái gì cả. Tôi khẳng định rằng, không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì cả”. Ông nhấn mạnh, cơ thể con người là khí quan vật chất của tư duy, ý thức cũng như mọi quá trình tâm lý của anh ta. Ông đã nhận thấy, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh môi trường xung quanh nhưng chưa hiểu được rằng, bản thân môi trường và hoàn cảnh đó cũng là sản phẩm của hoạt động con người, và vì vậy, cả con người lẫn hoàn cảnh sống của nó đều mang tính lịch sử. Đây cũng là hạn chế chung của các triết học trước Mác.
4. ý nghĩa của triết học tây âu thế kỷ ( thế kỷ XVII-XVIII) đối với việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay
Chúng ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Để nghiên cứu bản chất con người là gì?, con người quan hệ với thế giới như thế nào?, con người có vai trò như thế nào trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội?…. hay để tìm hiểu “Quan điểm của triết học về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”, đúng như quan điểm triết học của tây âu thế kỷ( thế kỷ XVII-XVIII).
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng đảng ta và bác hồ luôn quan tâm đến phát triển của con người, coi con người là mục tieeulaf động lực chủ yếu của sự phát triển kinh tế -xã hội là tài sản quan trọng nhất trong mọi tổ chức là trung tâm của sự phát triển .Hiện nay, chúng ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội càng trở nên quan trọng và cấp thiết.
Quan tâm đúng mức lợi ích kinh tế hợp pháp của người lao động, thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế Trong thời gian dài trong cơ chế quan liêu bao cấp trước đây, tình hình kinh tế nước ta ở trong vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ: muốn phát triển sản xuất, chúng ta cần có những người lao động phát triển tốt cả về thể lực và trí lực. Nhưng điều đó chỉ có được, khi nền kinh tế phát triển với năng suất lao động cao. Nền kinh tế của ta lại kém phát triển, thu nhập của người lao động thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn, nạn suy dinh dưỡng tăng lên, người lao động không được đào tạo đầy đủ. Công cuộc đổi mới của chúng ta đã khơi dậy tính tích cực của người lao động, biến nó thành nguồn sức mạnh to lớn, đưa chúng ta vượt khó khăn để phát triển kinh tế. Nếu chỉ dựa vào tinh thần lao động tích cực, ý chí vươn lên đơn thuần của nhân dân, chúng ta không thể xây dựng được một nền sản xuất hiện đại. Nhưng nếu chỉ chú ý nâng cao trình độ học vấn của người lao động, công nghệ hiện đại và đảm bảo sức khoẻ của người lao động mà không chú ý khơi dậy tính tích cực ở họ, chúng ta cũng không thể tận dụng được cơ hội để vượt qua những thử thách hiện nay. Vì vậy, quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của người lao động một cách toàn diện, từ nâng cao mức sống, sức khoẻ đến nâng cao trình độ của họ là nhiệm vụ mà ta cần phải làm.
Xây dựng môi trường hoạt động thuận lợi cho việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế Nhà nước cần tạo một môi trường xã hội thích hợp cho người lao động không chỉ trong hoạt động sản xuất, mà còn trong các quan hệ xã hội khác. Để đạt được mục tiêu trên, chúng ta phải cải tạo quan hệ sản xuất, luôn điều chỉnh nó cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thực tế thời gian qua đã chứng minh rằng, về cơ bản quan hệ sản xuất thời kỳ trước đổi mới chưa phù hợp với phát triển của lực lượng sản xuất. Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang hình thành và phát triển. Đây cũng chính là quá trình từng bước điều chỉnh quan hệ sản xuất để nó phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Kinh tế thị trường đòi hỏi mọi của cải đều phải trở thành hàng hoá, kể cả tư liệu sản xuất, sức lao động, trí tuệ và sản phẩm lao động. Yêu cầu đó đã tạo ra cạnh tranh, thôi thúc người lao động tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để vươn lên có việc làm tốt, thu nhập cao, kích thích phát minh sáng tạo. Chính đây là một nhân tố quan trọng góp phần hình thành quan hệ hợp lý, rõ ràng, bình đẳng giữa người và người. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các nước XHCN nhiều người cũng thừa nhận rằng, chúng ta đã hướng theo những mẫu người chưa thật phù hợp với thực tiễn thời đại và với tinh thần của CNXH. CNXH đòi hỏi con người phải hiện thực và sinh động hơn, phải phong phú và đa dạng hơn, phải văn hoá và trí tuệ hơn với những cá tính độc đáo và những phẩm chất năng động mới. Chỉ như vậy, thời đại mới đi đúng dòng chảy tự nhiên, mới thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình trong quá trình phát triển, nó mới là điều kiện cho con người vươn tới giá trị đích thực cao cả của mình.
Kiện toàn hợp lý tổ chức bộ máy Nhà nước và nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ Chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khi cơ chế cũ quan liêu bao cấp vẫn còn những ảnh hưởng tiêu cực: bộ máy quản lý cồng kềnh, cán bộ kém năng động, thụ động, ỷ lại,… Trong những năm đổi mới vừa qua, nhiều yếu kém đã được khắc phục một bước, song nhìn chung chưa chuyển biến cơ bản, bộ máy vẫn còn cồng kềnh, thủ tục phiền hà, điều hành phân tán, hiệu lực thấp. Một bộ phận cán bộ kém năng lực, quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, ức hiếp quần chúng, cản trở sự phát triển kinh tế và gây bất bình trong nhân dân. Vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” chúng ta nhất định phải vượt qua những điều đó.
Phát triển giáo dục – đào tạo, nâng cao mặt bằng dân trí Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta đã coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội. Điều đó cũng có nghĩa con người là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất trong sự phát triển của quốc gia Tiêu chí phát triển của một nước không thể quy về chỉ là tổng sản phẩm quốc dân như trước đây, mà phải dựa trên ba chỉ tiêu cơ bản: thu nhập, trình độ giáo dục và tuổi thọ. Dễ dàng nhận thức rằng cả ba tiêu chuẩn trên đều liên quan đến con người, trong đó, giáo dục đào tạo là quan trọng nhất.Đảng đã nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII “thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển”.
III.KẾT LUẬN.
Con người luôn được quan tâm của các nhà triết học các nhà khoa học khi nghiên cứu về nó, phát triền tòn diên con người sẽ giúp cho xã hội phát triển, là nguồn lực phát triển toàn diện cho đất nước .Nhìn chung quan điểm về con người trong triết học Tây Âu thời cận đại còn có một số hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh, xã hội cũng như phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người, con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn không có nguồn gốc từ chúa mà là một tổng thể các hiện tượng tâm lý. Bản thân nó cũng là đặc tính của vật chất . Và những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin về con người. đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp phát triển để phát huy nhân tố nguồn lực con người trong thời đại mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đảng đã nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII “thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển”. con người muốn phát triển phải giáo dục thì mới xây dựng đất nước, phát huy hết tiềm lực chăm sóc sức khỏ mọi dịch vụ cho người là quốc sách hàng đầu của đảng trong giai đoạn mới hiện nay như quan điểm củanhà triết học cac nhà triết học tây âu thế kỷ (XVII-XVIII) đã khẳng định cho ngàn đời sau lưu giữ, phát huy, kế thừa những giái trị tốt đẹp của những tư tưởng đó .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học mác-lenin nhà xuất bản chính trị quốc gia hà nội -2006.
2. Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI về quyền con người và phát huy nguông lực của con người.
3. http://thuvien24.com/lich-su-triet-hoc-tay-au-thoi-phuc-hung-can-dai-la-lich-su-tim-kiem-nhung-phuong-phap-hieu-qua-de-chi-dao-hoat-dong-nhan-thuc-va-thuc-tien-cho-giai-cap-tu
4. http://reds.vn/index.php/tri-thuc/triet-hoc/4152-l-phat-trien-cua-tu-tuong-ve-quyen-con-nguoi.

Chào các bạn! Mình làm công việc quản trị nội dung của trung tâm Luận Văn Group. Công việc này đã gắn bó với mình được hơn 10 năm, mình tốt nghiệp trường Kinh Tế Quốc Dân, có sở thích là viết các đề tài nghiên cứu và viết luận, các bạn muốn sử dụng dịch vụ bên mình vui lòng liên hệ qua website: https://lamluanvan.net/. Rất mong được sự ủng hộ của các bạn!

Bài viết liên quan
COVID-19 VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU (VLTL)
Đề tài tiểu luận COVID-19 VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU (VLTL) I. ĐẶC ĐIỂM...
Th8
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC – CỤC THUẾ CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 2 PHẦN 1: NỘI DUNG TÌNH HUỐNG 5 1. Hoàn...
Th7
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn...
Th7
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm non hiện nay
MỤC LỤC I. GIỚI THIỆU 1 II. NỘI DUNG CHÍNH 3 2.1. Phân tích quan...
Th7
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LỤC NGẠN SỐ 3, HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1. THỐNG NHẤT GIỮA...
Th7
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Tiêu đề: Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc...
Th7