Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt cấp xã

Rate this post
Luận văn tốt nghiệp đề tài: Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt cấp xã
Giới thiệu dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Ngày 03/6/2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghị quyết nhận định nguyên nhân “…Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về công tác này chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, còn thiên về lợi ích kinh tế trước mắt, chưa coi trọng phát triển bền vững…” với Quan điểm “… tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội…” và “…Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững…” Nghị quyết xác định mục tiêu “…tiêu huỷ, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt..”.
Quyết định 622/QĐ-TTg, ngày 10/5/2017 của Thủ tướng chính phủ, quyết định về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, với quan điểm “1. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường,…” Rác thải đang là chủ đề gây bức xúc tại nhiều đô thị trong nước cũng như trên thế giới. Ý thức được điều này, những năm qua, các cấp ngành, các nhà khoa học luôn quan tâm chú trọng và tìm kiếm công nghệ để xử lý chất thải và tận dụng phế thải để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đem lại hiệu quả kinh tế lớn.
Cùng với cả nước, tỉnh Bình Duơng đã và đang chú trọng đến công tác quản lý môi trường. Nhiệm vụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) của tỉnh hiện nay đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên, CTRSH chưa được phân loại tại nguồn làm hạn chế khả năng tái chế nhiều thành phần có giá trị. Công nghệ tái chế mới bắt đầu được triển khai trong một vài năm gần đây.
Quy hoạch chung xây dựng Đô thị Nam Tân Uyên đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 đã được UBND tỉnh Bình Dương phê duyệt theo Quyết định số 1886/QĐ-UBND ngày 13/7/2012. Trong quy hoạch này đã xác định Uyên Hưng là Khu đô thị cấp Phường của Thị xã Tân Uyên và là phường trung tâm của thị xã Tân Uyên, cũng là trung tâm hành chính, văn hóa, thương mại dịch vụ.
Với vai trò, vị trí nêu trên, việc nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt là việc làm cần thiết, nhằm cụ thể hóa định hướng quy hoạch chung xứng đáng là phường trung tâm của thị xã, theo yêu cầu thời đại phát triển đô thị bền vững.
2. Tổng quan nghiên cứu:
Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả:
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau. Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng. Nếu có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng. Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh. Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn. Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác.
Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại. Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh. Các loại rác còn lại: giấy, vải, thủy tinh, kim loại,… đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa. Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để. Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm. Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa.
Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu tấn. Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày. Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ. Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7%. Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%) (Lê Văn Nhương, 2001) .
Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu hay nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần. Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn hợp mà phải xử lý theo phương pháp nhất định. Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhập khẩu không sử dụng các vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó. Tuy nhiên cần phải tham khảo và thương lượng để có sự nhất trí cao của các tổ chức, nghiệp đoàn khi áp dụng các yêu cầu này.
Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới. Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy. Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại. Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường. Ngoài ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty. Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng.
Ở nước ta chỉ khoảng 7 người/1 triệu dân làm công tác quản lý nhà nước về môi trường, trong khi con số này ở nước láng giềng Trung Quốc là 20 người, so với các nước trong khu vực ASEAN như: Thái Lan là 30 người, Campuchia là 55 người, Malaysia là 100 người, Singapore là 330 người. Đối với các nước phát triển thì con số này còn cao hơn nhiều, ví dụ như: Canada là 155 người, Anh là 204 người. Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải. Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường… Do đó công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo.
Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh như sau:
Tại Hà Nội: Theo tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường Đô thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh hoạt, tức một năm có trên dưới một triệu tấn. Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều đơn vị khác cùng tham gia thu gom rác như Công ty cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Tây Đô, Công ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công… nhưng tất cả vẫn không thể thu gom nổi vì lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh. Chính vì vậy mà tỉ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở các quận nội thành hiện đạt khoảng 95%, còn các tuyến ngoại thành mới chỉ khoảng 60%. Hiện nay, Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chôn lấp hoặc xử lý rác thải. Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã thành lập tổ thu gom rác; trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi rác tập trung của thành phố (đạt tỉ lệ 34%).
Tại Cần Thơ: Ước tính toàn thành phố thải ra khoảng 650 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, nhưng tỷ lệ thu gom đạt thấp (khoảng 63% vào năm 2008, đến năm 2009 tỷ lệ này nâng lên không đáng kể), lượng rác còn lại được người dân thải vào các ao, sông, rạch… Năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn các quận nội thành nhìn chung khá tốt; nhưng đối với các quận, huyện ngoại thành (Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh…) việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiệu quả chưa cao. 
Tại TP. Hồ Chí Minh: Là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải rắn đô thị hàng năm tại TP.Hồ Chí Minh rất cao. Theo số liệu của Sở Tài nguyên – Môi trường, mỗi ngày trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đổ ra khoảng 5.800 – 6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500 – 700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150 – 200 tấn chất thải nguy hại, 9 – 12 tấn chất thải rắn y tế. Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn (Hoàng Thị Kim Chi, 2009).
Tại Đồng Nai: Hiện nay toàn tỉnh có 4/7 khu xử lý rác thải sinh hoạt đang trong quá trình triển khai thực hiện đưa vào sử dụng và 03 khu xử lý tập trung liên huyện, liên đô thị đang trong giai đoạn lập dự án đầu tư. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở Đồng Nai mới chỉ đạt 71%, còn 29% rác thải sinh hoạt đang thải ra môi trường chưa được xử lý. Trong đó, tổng khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 1.167 tấn/ngày, bao gồm 1.080 tấn chất thải sinh hoạt ngoài khu công nghiệp và 87 tấn rác trong khu công nghiệp. Tình trạng xử lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều bãi chứa rác, không có các điểm trung chuyển rác.
Nếu bạn đang trong quá trình viết luận văn tốt nghiệp, bạn bận công việc không thể tự mình hoàn thiện được đề tài, bạn cần người hỗ trợ viết luận văn nhưng không biết giá thuê viết luận văn tốt nghiệp có cao không thì hãy liên hệ với Luận Văn Group để được tư vấn nhé.
3. Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn thực hiện với mục tiêu cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH theo hướng ứng dụng vào thực tế tại địa phương, nghiên cứu trường hợp tại phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
– Quản lý chất thải rắn có vai trò như thế nào đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở cấp độ địa phương?
– Quản lý chất thải rắn được thể hiện trên các nội dung nào? Các tiêu chí đánh giá hiệu quả trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường?
– Cần có những giải pháp, cơ chế, chính sách và sự tham gia của các chủ thể, tổ chức nào ở phường Hưng Uyên để nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn?
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, việc nghiên cứu đề tài này đặt ra những nhiệm vụ sau:
• Tổng hợp và phân tích các quan điểm lý luận về quản lý chất thải rắn, vai trò của quản lý CTRSH đối với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong xu thế công nghiệp hóa và đô thị hóa;
• Tổng hợp và phân tích các căn cứ thực tiễn của việc xây dựng mô hình quản lý chất thải rắn với việc áp dụng tại phường Uyên Hưng trong quản lý CTRSH.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý CTRSH bao gồm các hoạt động thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH ở phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung và không gian bao gồm hoạt động quản lý CTRSH trong nội đô thị, bao gồm thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH tại phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian bao gồm những hoạt động quản lý CTRSH đô thị trong thời gian từ khi có Luật Bảo vệ Môi trường và những qui định bắt buộc về quản lý chất thải rắn.
5. Phương pháp nghiên cứu và số liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này một cách hiệu quả và đảm bảo độ tin cậy, các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể đã được sử dụng đặt trong yêu cầu cụ thể của từng nhóm vấn đề, từng nhiệm vụ cần thực hiện. Cụ thể:
Trong luận văn phương pháp phân tích tổng hợp số liệu, từ các bài báo nghiên cứu khoa học, từ báo cáo của UBND phường Uyên Hưng và các cơ quan có liên quan của thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Phương pháp chuyên gia: Để phù hợp với nội dung nghiên cứu, đề tài đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp quản lý về môi trường tại các phường.
5.2. Số liệu
Thu thập các số liệu thứ cấp như: các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Các số liệu thứ cấp thu thập từ Ủy ban nhân dân phường, phòng Tài nguyên & Môi trường,  Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh và HTX Dịch vụ môi trường Khánh Bình.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài
Dưới góc độ bộ môn kinh tế học Tài nguyên và môi trường xem rác thải sinh hoạt là một dạng tài nguyên. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của hành vi, thói quen sinh hoạt, thải bỏ chất thải ra môi trường, thông qua đó có định hướng xác thực hành vi thải bỏ chất thải trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội gắn với phát triển bền vững. Từ đó, đề xuất các giải pháp cho các nhà quản lý trong giữ gìn vệ sinh môi trường sống, từng bước xây dựng đô thị văn  minh tại phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
7. Kết cấu của bài
Luận văn được kết cấu  như sau:
•Phần mở đầu
• Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý chất thải rắn ở cấp xã – phường
• Chương 2: Thực trạng quản lý chất thải rắn tại phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
• Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
• Kết luận
Bạn có thể download tại link
Liên hệ dịch vụ viết bài:
Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *