Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)

5/5 - (2 bình chọn)

Đề bài: Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)

BÀI LÀM
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thể hiểu, thi pháp là mỹ học của nghệ thuật ngôn từ, là cái đẹp của nghệ thuật văn chương. Từ những đặc trưng chủ yếu trong thi pháp truyện ngắn, chúng tôi liên hệ phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – một cây bút văn xuôi sắc sảo, đa dạng, có vị trí đặc biệtquan trọng trong nền văn học Việt Nam, là một trong số những nhà văn cónhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.Ông được coi là cây đại thụ của nền văn học Việt Nam, được độc giả nhiều thế hệ say mê. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là tác phẩm đặc sắc trong tập Truyện Tây Bắc (1953).
Trong thi pháp của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, có hai phương diên tiêu biểu và nổi bật. Đó là kết cấu nghệ thuật và giọng điệu. Kết cấu bề mặt của Vợ chồng A Phủ có các mảng, các miền của không gian và thời gian, vốn như là những điều kiện về địa lý, lịch sử và văn hóa để con người trong tác phẩm diễn trình các dáng nét cuộc sống, lao động, tình yêu, nỗi đau, tâm tư và khát vọng tự do, đấu tranh và hạnh phúc. Về thời gian có các chặng: Khi Mị và A Phủ còn tự do, khi làm nô lệ trong nhà thống lý Pá Tra, thời gian Mị và A Phủ thành vợ chồng, làm du kích, giải phóng. Về không gian có không gian Hồng Ngài và Phiềng Sa.
II. NỘI DUNG
2.1. Nhân vật
Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài là một trong những phương diện được các nhà nghiên cứu nhìn nhận khá thống nhất. Phan Cự Đệ cùng với những phát hiện về khả năng quan sát của Tô Hoài đã khẳng định: “Anh quen viết về những nhân vật, những cảnh đời hồn nhiên như hơi thở của sự sống, khoẻ mạnh, thuần phác, lạc quan như những con người trong truyện cổ tích. Trữ tình, trong sáng đẹp và ý nhị như ca dao”. Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh rằng, thế giới nhân vật của Tô Hoài còn có những hạn chế nhất định: “Anh chưa thật thành công khi thể hiện những bước ngoặt của tính cách”. “Anh ít khai thác nhân vật của mình ở góc độ trí tuệ, ở sự bừng tỉnh trí tuệ và hầu như cũng chưa có nhân vật trí tuệ nào được miêu tả thành công trong tác phẩm của anh”. Đáng chú ý là ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Tô Hoài với quan niệm “con người là con người”, tác giả khẳng định: “Tô Hoài quan niệm con người là con người, chỉ là con người, thế thôi”. Vì thế, nhân vật của ông được khai thác “toàn chuyện đời tư, đời thường”. Ngay cả “nhân vật cách mạng, nhân vật anh hùng của ông thường ít được lý tưởng hoá. Tô Hoài không thích che đậy phương diện người thường, đời thường của những chiến sỹ cách mạng. Ngay cả thế giới loài vật của Tô Hoài cũng vậy thôi, chẳng có những phượng hoàng, kỳ lân, chẳng có hổ, báo, sư tử ghê gớm gì, chỉ toàn những con vật tầm thường vẫn sinh sống hằng ngày quanh ta”. Đặc điểm riêng này khiến thế giới nhân vật Tô Hoài phong phú, đa dạng và gần gũi với mỗi chúng ta.
Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài nói chung chúng rất đa dạng và sinh động. Chúng là phương tiện quan trọng thể hiện cảm quan nghệ thuật của tác giả, là phương diện quan trọng làm nên thế giới nghệ thuật của nhà văn thể hiện cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Và nhà văn Tô Hoài trong quá trình sáng tác những truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã rất khéo léo và thành công trong quá trình xây dựng các hình tượng nhân vật.
Thứ nhất, về ngoại hình nhân vật.
Ngoại hình, hình dáng của nhân vật thường có mối quan hệ chặt chẽ với tính cách, bản chất của nhân vật. Người xưa đã dạy “Trông mặt mà bắt hình dong”, như vậy ngoại hình là yếu tố đầu tiên khi xem xét nhân vật. Tuỳ theo dụng ý nghệ thuật mỗi nhân vật thường được tác giả phác hoạ những nét đậm nhạt về ngoại hình.
Trong Vợ chồng A Phủ, tuy tác giả không dụng công miêu tả vẻ đẹp hình thức của Mị bởi đó không phải là chiều tư tưởng nhà văn muốn vươn tới. Nhưng chỉ bằng một chi tiết nhỏ “Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị” cũng đủ để người đọc hình dung vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật. Theo quy luật thông thường, sắc thường đi đôi với tài và quả Mị tài thật tài thổi sáo khiến “nhiều người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Sắc tài ấy báo hiệu điều gì? Đọc ta mới thấy Mị cũng giống các nhân vật nữ khác, ở những nơi khác như Tiểu Thanh, Thuý Kiều – những nhân vật nữ tài hoa mà bạc mệnh.
Thứ hai, hành động, nội tâm, ngôn ngữ nhân vật.
Hành động, hành vi, cử chỉ của nhân vật là những tín hiệu quan trọng cung cấp thêm những thông tin cho bức tranh toàn diện về nhân vật. Mỵ trong Vợ Chồng A Phủ là một điển hình thuộc loại nhân vật hành động. Diễn biến tâm lý và hành động của Mỵ gắn liền với nhau, bổ trợ nhaulàm nổi bật tính cách. Toàn bộ hành động của Mỵ là hành động phản kháng với sự bất công. Khi bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà Pá Tra hành động đầu tiêncủa Mỵ là không chấp nhận, Mỵ xin cha được đi làm trả nợ, cha không đồng ý, Mỵ khóc và quyết định tự tử. Đây là hành động thể hiện Mỵ đã ý thức được về quyền sống, quyền tự do của mình. Tiếp đó, trong đêm tình mùa xuân với tiếng sáo đánh thức tâm hồn Mỵ đã làm xuất hiện hành động thứ hai mạnh mẽ, quyết liệt hơn, bỏ qua nỗi sợ hãi cha con thống kí Mỵ chuẩn bị váy áo đi chơi xuân. Hành động này thể hiện sức sống mạnh mẽ, bất diệt, khát khao tự do, hạnh phúc cháy bỏng trong Mỵ. Từ hành động chuẩn bị đi chơi đêm tình mùa xuân châm ngòi dẫn đến hành động táo bạo về sau này khi chứng kiến A Phủ bị trói, đánh, Mỵ quyết định rút dao, cắt dây, cởi trói cho A Phủ và cũng cứu lấy bản thân mình. Đó là hành động quan trọng làm nên sự đổi thay cuộc đời Mỵ
Thứ ba mối quan hệ giữa các nhân vật, giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh.
Quan hệ giữa các nhân vật, giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh chi phối tình cảm, tính cách nhân vật. Cô Mị trong Vợ chồng A Phủ tiếng là dâu nhưng thực chất là nô lệ trong nhà thống lí. Quan hệ đó đã biến một cô gái yêu đời, yêu sống thành cái xác không hồn, thành thứ đồ vật trang trí thêm cho cảnh nhà giàu. Nhưng chính khung cảnh ngày tết đầy xao xuyến, cảnh bữa cơm cúng ma nhộn nhịp, rồi tiếng sáo gọi bạn yêu lại đánh thức ngọn lửa lòng âm ỉ trong tro tàn bùng cháy.
2.2. Không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó, thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ bản tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan. Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng. Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lý. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đó. Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy.
Truyện “Vợ chồng A Phủ” là loại truyện số phận. Tác phẩm kể về số phận của Mỵ và A Phủ nên không gian trong tác phẩm là không gian của số phận con người diễn ra ở hai địa điểm cách xa nhau hàng tháng đường rừng trên vùng cao Tây Bắc là Hồng Ngài và Phiềng Sa. Trong bối cảnh không gian chung ấy, mỗi đoạn đời hai của nhân vật lại gắn với những không gian mang dấu ấn riêng.
Thứ nhất, không gian số phận của Mỵ và A Phủ ở Hồng Ngài là không gian nô lệ. Trong không gian ấy, có hai loại nhân vật được ngòi bút tác giả tập trung thể hiện là kẻ chủ nô và người nô lệ. Kẻ chủ nô là cha con thống lý Pá Tra, còn người nô lệ là Mỵ và A Phủ. Kẻ chủ nô có đủ mọi quyền hành còn người nô lệ bị đối xử không bằng súc vật.
Trước hết, tác giả đã xây dựng không gian bối cảnh dẫn tới không gian nô lệ. Đó là không gian gia đình Mỵ sống cùng người bố đã già yếu lại mang một món nợ truyền kiếp. Món nợ ấy là do bố Mỵ vay của bố thống lý Pá Tra để cưới mẹ Mỵ, mỗi năm phải trả lãi cho chủ nợ một nương ngô. Cả cuộc đời lao động vất vả, bố mẹ Mỵ cũng không thể nào trả hết nợ. Và bây giờ, cái thời khắc quyết định đến số phận cuộc đời Mỵ đã đến khi Pá Tra đến bảo với bố Mỵ: “Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho.”. Mặc dù rất thương con nhưng bố con Mỵ không có cách nào chống lại cái luật lệ khắc nghiệt do bọn quan lại vùng cao đặt ra. Đây chính là bối cảnh để buộc Mỵ phải trở thành nô lệ. Như vậy là món nợ truyền kiếp từ thời cha mẹ, Mỵ phải trả bằng cả tuổi trẻ và cuộc sống tự do của mình. Còn cha con Pá Tra đã hoàn thành việc biến con người tự do thành nô lệ.
Hoàn cảnh trở thành nô lệ của A Phủ cũng là phải trả nợ cho thống lý Pá Tra, nhưng nguyên nhân dẫn đến việc trở thành nô lệ của A Phủ thì có khác. Tác giả khắc họa một không gian thơ mộng của những đêm tình mùa xuân dành cho tuổi trẻ ở vùng cao. Trong không gian ấy có tiếng sáo thổi, có các chàng trai, các cô gái trẻ đẹp, có các trò chơi ném pao, đánh quay, đặc biệt là có tiếng hát gọi bạn tình. Không gian thơ mộng như trong cổ tích ấy bỗng chốc bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của A Sử, con trai thống lý Pá Tra. Mặc dù đã có vợ, hắn vẫn muốn đi bắt nhiều cô gái trẻ đẹp khác về làm vợ, mà thực chất là làm nô lệ. Không như lần đi cướp Mỵ về làm vợ, lần này A Sử đã phải trả giá cho việc phá rối cuộc chơi của đám thanh niên. A Phủ xuất hiện, “vung tay ném thẳng con quay vào giữa mặt A Sử”. A Phủ xộc tới, nắm lấy cái vòng cổ nạm bạc của A Sử, cái dấu hiệu con quan của hắn mà đánh tới tấp trước sự cổ vũ của trai làng. Tất nhiên là đứa con của núi rừng tự do ấy bị bắt, bị trói, bị khiêng về nhà Pá Tra, bị đánh đập tàn nhẫn, bị xử phạt và bị biến thành nô lệ.
Không gian bối cảnh có vai trò làm nền để đẩy nhân vật vào không gian nô lệ. Để tạo ra bối cảnh của câu chuyện, tác giả đã đưa vào truyện một số sự kiện. Các sự kiện này tương tác với nhau thúc đẩy sự diễn biến của cốt truyện. Tác giả xây dựng hình tượng nhân vật theo cấu trúc nghịch lý. Mỵ có tuổi trẻ, có sắc đẹp, hiếu thảo, nhưng lại sinh ra trong một gia đình quá nghèo. Vì không có tiền trả nợ cho bố nên trở thành nô lệ. Còn A Phủ, tuy là chàng trai mồ côi, không người thân thích, không nhà cửa, không tài sản nhưng lại có đầy đủ phẩm chất của người lao động: có sức khỏe, lao động giỏi, ưa thích những công việc mạo hiểm, giàu lòng dũng cảm, con gái nhiều người mê, nhưng cũng bởi không có tiền nộp phạt mà A Phủ trở thành nô lệ của Pá Tra. Bọn quan lại thì có quyền lực, có công cụ đàn áp, vừa gian ác, vừa xảo quyệt, chúng tìm mọi cách để nô lệ hóa con người. Khi hai lực lượng ấy va đập vào nhau, thì như một tất yếu của cuộc sống trong xã hội cũ, phần thắng luôn thuộc về kẻ mạnh.

Download tài liệu

Liên hệ dịch vụ viết bài:

Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *