Nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng Internet của công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ

Rate this post
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của mạng Internet ngày càng lớn, nó gần như trở thành một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống của các cư dân thế kỷ 21. Sự bùng nổ của Internet đã mở ra nhiều cơ hội mới cho mọi người, nó giúp thu hẹp khoảng cách cả về không gian và thời gian giữa mọi người trên thế giới. Do đó, thương mại điện tử ngày càng phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Các doanh nghiệp Việt Nam đang dần dần ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng muốn phát triển thương hiệu của mình ra khắp thế giới, nhờ vậy mà nhu cầu về truyền thông thương hiệu điện tử của các doanh nghiệp cũng tăng cao. Cùng với dòng chảy của xã hội, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tiến hành truyền thông thương hiệu doanh nghiệp mình qua mạng internet, trong đó có công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ.
Công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ là công ty chuyên hoạt động trong các lĩnh vực về các giá trị gia tăng trên mạng, kinh doanh dịch vụ viễn thông… Dịch vụ của công ty rất đa dạng và không ngừng phát triển thêm nhiều mặt hàng mới. Công ty hiện đang là đối tác của nhiều Tập đoàn viễn thông lớn như: Viettel, VNPT, Nortel, Arctel, Andrew, Telestone, Nexans…
Bên cạnh những thành công trong kinh doanh mà công ty đã đạt được thì công ty cũng còn gặp một số khó khăn đặc biệt là trong hoạt động truyền thông thương hiệu của mình như việc xây dựng và truyền thông thương hiệu của công ty qua mạng internet  còn nhiều trở ngại do thiếu kinh phí và nhân lực về phát triển web. Website của công ty còn sơ sài, mới mang hình thức giới thiệu sản phẩm, chưa có nhiều các tính năng như đặt hàng trực tuyến trên web, hỗ trợ trực tuyến. Các doanh nghiệp biết đến sản phẩm của công ty chủ yếu qua sự giới thiệu của những đối tác đã sử dụng sản phẩm của công ty, khách hàng vẫn chưa biết nhiều đến hình ảnh của công ty qua các phương tiện truyền thông sử dụng mạng internet. Công ty cũng chưa xây dựng được chiến lược dài hạn cho việc truyền thông thương hiệu của mình. Đặc biệt nguồn nhân lực hiểu biết về thương hiệu điện tử của công ty còn hạn chế, kinh phí đầu tư cho phát triển thương hiệu điện tử và các hoạt động truyền thông thương hiệu điện tử còn ít.
Do vậy, trên cơ sở nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng internnet cũng như điều kiện thực tế của các công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng Internet của công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ”
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về thương hiệu, truyền thông thương hiệu đã được nghiên cứu rất nhiều ở Việt Nam. Nhiều giáo trình về thương hiệu của các trường Đại học trong và ngoài nước đã đề cập đến vai trò, quy trình quản trị, xây dựng và truyền thông thương hiệu của sản phẩm, doanh nghiệp một các khái quát. Một số công trình nghiên cứu trong nước như: 
 GS.TS Nguyễn Bách Khoa (2003), Giáo trình Marketing thương mại điện tử – NXB Thống Kê – Hà Nội: Đề cập đến các nguyên lý chủ yếu của marketing thương mại điện tử. 
 Giáo trình Quản trị thương hiệu điện tử  của Đại học Thương mại ( 2008
 PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh ( 2008)  Cuốn “Phát triển bao bì và xúc tiến quảng bá hình ảnh thương hiệu cho nông sản Việt Nam”
 PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh ( 2003) – Quan hệ công chúng- biện pháp hữu hiệu trong phát triển thương hiệu 
 Luận văn (2011) – Quảng bá thương hiệu điện tử do PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh hướng dẫn
Có thể nói, đến nay chưa có đề tài nào có đối tượng nghiên cứu hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng internet, đặc biệt là tại Công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ. Vì vậy, đề tài luận văn đăng ký đảm bảo không trùng với bất kỳ một công trình khoa học nào đã được công bố đế này.
3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương hiệu, truyền thông thương hiệu trên mạng internet để tiến tới tìm hiểu các hoạt động của truyền thông thương hiệu trên internet.
Vận dụng các nguyên lý quản trị và nội dung hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng internet để tiếp cận, nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng internet của công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ. Từ đó rút ra những thành công, hạn chế và bất cập của hoạt động truyền thông thương hiệu trên internet hiện tại nhằm đưa ra các luận cứ thực tiễn cho hoạch định chiến lược trong giai đoạn tới. 
Đề xuất quan điểm mang tính định hướng và những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng internet của công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ  nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vị nghiên cứu đề tài này hoạt động truyền thông thương hiệu trên mạng internet tại công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ trong khoảng thời gian từ năm 2010 – 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Dựa trên kết quả điều tra, phỏng vấn chuyên sâu đội ngũ lãnh đạo của công ty nhằm tìm hiểu về nhận thức của công ty đối với vấn đề truyền thông thương hiệu, thực trạng truyền thông thương hiệu trên mạng internet của công ty, cũng như các chiến lược liên quan.
 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
– Thông qua các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các website thống kê uy tín, qua báo đài, truyền hình, các tin bài về xu hướng phát triển của Thương mại điện tử và Truyền thông online.
– Thông qua quá trình thực tế, quan sát và làm việc trong thời gian thực tập tại văn phòng của công ty.
6. Kết cấu đề tài 
Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông thương hiệu. 
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông trên internet của công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ. 
Chương 3:  Đề xuất giải pháp nâng chất lượng hoạt động truyền thông trên internet của công ty cổ phần viễn thông tuổi trẻ. 
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG THƯƠNG HIỆU
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Chất lượng, quản trị chất lượng
1.1.1.1. Chất lượng
Chất lượng là một phạm trù phức tạp thường gặp trong các lĩnh vực hoạt động, nhất là trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, nó là vấn đề tổng hợp về kinh tế, kỹ thuật, xã hội, tâm lý, thói quen… của con người. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng.
Tùy theo đối tượng sử dụng, quan điểm về  “chất lượng” cũng khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. 
Dưới quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm phải thể hiện các khía cạnh sau : (1) Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó. (2) Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí. Người tiêu dùng không chấp nhận mua một sản phẩm với bất kỳ giá nào. (3) Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương. Phong tục, tập quán của một cộng đồng có thể phủ định hoàn toàn những thứ mà thông thường người ta xem là có chất lượng.
Theo European Organization for Quality Control thì ”Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”.
Tổ chức Quốc tế về Tiệu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.  Ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán. 
Một cách tổng quát, chất lượng có thể được hiểu như sau :”Chất lượng là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định”. Chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu. Sự phù hợp nầy phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, đó là : hiệu năng, khả năng hoàn thiện; giá thỏa mãn nhu cầu và  đúng thời điểm.
1.1.1.2. Quản trị chất lượng 
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị chất lượng. Tuy nhiên, khái niệm này có nhiều điểm tương đồng và phản ánh được bản chất của quản trị chất lượng.
Vào những năm 50, các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm và các khái niệm quản trị chất lượng bắt đầu xuất hiện. Quan điểm phương Tây cho rằng: “Quản trị chất lượng là một hệ thống hoạt động có hiêụ quả của những bộ phận khác nhau trong những tổ chức, trong một đơn vị kinh tế, chịu trách nhiệm triển khai các thông số chất lượng, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng”.
Theo quan điểm của Nhật: “Quản trị chất lượng là hệ thống các biện pháp công nghệ sản xuất, tạo điều kiện kinh tế nhất những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng với chi phí thấp”
Sang những năm của thập kỷ 70, sự cạnh tranh tăng lên đột ngột đã buộc các doanh nghiệp phải nhìn nhận lại và thay đổi quan niệm về quản trị chất lượng trong hang loạt các doanh nghiệp lớn trên thế giới, đặc biệt ở Nhật và Mỹ và các nước Tây Âu phát triển đã tạo ra một cuộc cách mạng sản phẩm trên thế giới. Người ta đã biết đến quản trị chất lượng theo phương pháp hiện đại dưới những cái tên quen thuộc được phổ biến rộng rãi ở Nhật và phương Tây như quản trị chất lượng đồng bộ (TQM)
Theo quan niệm phương Tây: TQM là một hệ thống có hiệu quả thống nhất hoạt động của các bộ phận khác nhau, chịu trách nhiệm triển khai, duy trì mức độ đạt được, nâng cao mức chất lượng để sử dụng sản phẩm ở mức kinh tế nhất, nhằm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng với vai trò kiểm tra quan trọng của các chuyên gia.
Theo giáo sư người Nhật Hitoshikume: “TQM là một dụng pháp quản trị đưa đến thành công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thông qua việc huy động hết tất cả tâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng”.
Theo tiêu chuẩn ISO 8402:1994 (Hay TCVN 5814:1994): “ TQM là cách quản trị một tổ chức (một doanh nghiệp) tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của các thành viên của nó nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội.”
Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. 
1.1.2. Thương hiệu
Từ khi ra đời cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ “thương hiệu”. Nhiều người cho rằng thương hiệu chính là nhãn hiệu hàng hóa (trade mark), là cách nói khác của nhãn hiệu thương mại. Việc gọi nhãn hiệu là thương hiệu là muốn gắn nhãn hiệu với yếu tố thị trường, muốn ám chỉ rằng nhãn hiệu có thể mua bán được như những hàng hóa khác. Trên thực tế, theo cách mọi người thường nói về thương hiệu thì thuật ngữ này lại bao hàm không chỉ các yếu tố  có trong nhãn hiệu mà còn cả các yếu tố khác nữa như hình dáng, âm thanh, sự các biệt của bao bì…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *