Kiểm định điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014

5/5 - (1 bình chọn)
Đề tài luận văn mẫu: Kiểm định điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014
Sự cần thiết của đề tài
Giới thiệu dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ
Mỗi nước và khối nước trên thế giới đều có những đồng tiền riêng phản ánh giá trị của nền kinh tế. Mối liên hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau thông qua quan hệ đầu tư, buôn bán dẫn đến sự trao đổi đồng tiền của quốc gia này với quốc gia khác. Qua thời gian đã hình thành nên giá cả trao đổi đồng tiền giữa các nước là tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách của một quốc gia. Đặc biệt, tại thời điểm tài chính toàn cầu đang rơi vào sự khủng hoảng với sự suy giảm của các nền kinh tế có tác động rất lớn đến tâm lý của các nhà đầu tư cũng như sự phát triển kinh tế nói chung. Chính sách tỷ giá của một quốc gia càng cần phải linh hoạt để có những bước đi vững chắc làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế.
Chính sách tỷ giá hối đoái luôn luôn là một vấn đề gây tranh cãi đối với các nước đang phát triển. Bất cứ khi nào các quốc gia mới nổi đối mặt với sự cân bằng của vấn đề thanh toán thâm hụt, họ giảm giá tiền tệ. Điều kiện Marshall-Lerner nói rằng “nếu tổng số co giãn của nhu cầu nhập khẩu và xuất khẩu là lớn hơn một, cán cân thương mại được cải thiện bằng cách giảm giá.” Điều này được cho là cần thiết cũng như thỏa đáng cho sự tiến bộ trong cán cân thương mại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cán cân thương mại tiếp tục giảm ngay cả khi các điều kiện Marshall- Lerner đã được ứng nghiệm (Bahmani-Oskooee, 1985)
Phá giá tiền tệ là một trong những biện pháp của chính sách thương mại quốc tế liên quan đến quy định của chính phủ trong chế độ tỷ giá. Nó có tác động rất lớn đối với nền kinh tế, đặc biệt là đối với cán cân thương mại của một quốc gia. Việc áp dụng chính sách có hiệu quả cần phải phân tích tình hình thực tế, dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị phù hợp cả trong và ngoài nước, hạn chế các nguy cơ xấu xảy ra do chính sách này mang lại.
Nhiều quốc gia trên thế giới mất giá đồng nội tệ của họ như một cách tỷ giá hối đoái chính sách bình ổn trụ sở tại để cải thiện sự cân bằng của họ về thương mại hoặc tài khoản hiện tại. Đây là loại chính sách trở nên rất phổ biến trong suốt thời gian chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Mô hình xây dựng hành động làm chính sách được bắt nguồn chặt chẽ từ điều kiện Marshall-Lerner.
Bahmani- Oskooee (1985) cho thấy rằng đã có một số trường hợp mà điều kiện Marshall-Lerner đã được hoàn thiện nhưng vẫn còn cán cân thương mại tiếp tục xấu đi. Do đó, ông đề nghị rằng chính sách thương mại cần phải được thực hiện dưới tác động ngắn hạn mà sau thời gian mất giá của cán cân thương mại.
Đối với Việt Nam từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa của thế giới. Là một nước đi sau và có nền kinh tế còn khó khăn, đòi hỏi Việt Nam phải học hỏi, vận dụng phù hợp kinh nghiệm của các nước đi trước. Để hội nhập ngày càng sâu hơn vào sân chơi quốc tế mà không bị lu mờ, Chính phủ nước ta cần phải đưa ra các chính sách hiệu quả, phù hợp với tình hình Việt Nam.
Trong suốt một thập kỷ qua (2000 – 2010), cán cân vãng lai của Việt Nam luôn ở tình trạng thâm hụt. tuy nhiên, nếu tính bằng tỷ lệ % trên GDP thì từ năm 2008 đến nay, mức thâm hụt có xu hướng giảm và lần đầu tiên sau 10 năm, đạt mức thặng dư 0,2% GDP vào năm 2011. Phải chăng đó là hệ quả của phá giá nội tệ, công cụ chính sách vốn đang gây tranh cãi ở Việt Nam: “Có nên tiếp tục phá giá Việt Nam đồng để cải thiện cán thương mại?”. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Kiểm định điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014” nhằm kiểm định tính hiệu quả của những lần phá giá Việt Nam đồng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Kiểm tra các điều kiện Marshall-Lerner (ML) cho nền kinh tế Việt Nam. Với mục đích chính là để kiểm tra tác động của thay đổi tỷ giá hối đoái trên cán cân thương mại. Nếu độ co giãn thương mại cao, đủ để biện minh cho một sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái như một chính sách thích hợp để cải thiện cán cân thương mại của các khoản thanh toán cân bằng. 
>>>Nếu các bạn đang trong quá trình viết luận văn thạc sĩ, bạn bận công việc không thể hoàn thiện được đề tài cho mình, bạn cần tìm kiếm dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ thì có thể liên hệ với Luận Văn Group để được hỗ trợ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Ước lượng độ co giãn về xuất khẩu theo tỷ giá hối đoái
Ước lượng độ co giãn về nhập khẩu theo tỷ giá hối đoái
Kiểm tra tổng hệ số co giãn của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu với tỷ giá như thế nào so với 1
Gợi ý một số chính sách cho nền kinh tế Việt Nam 
3. Câu hỏi nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau:
– Độ co giãn về xuất khẩu là bao nhiêu?
– Độ co giãn về nhập khẩu là boa nhiêu?
– Tổng hệ số co giãn giữa cầu xuất khẩu và nhập khẩu là bao nhiêu?
– Những kiến nghị gì có thể xây dựng cho Việt Nam một cơ chế điều hành chính sách tỷ giá tối ưu nhất.
4. Các khái niệm
Cần làm rõ một số khái niệm có liên quan của đề tài
4.1. Điều kiện Marshall-Lerner
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều kiện này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred Marshall và Abba Lerner.
Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu đối với hàng xuất khẩu tăng lên. Đồng thời, giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ co giãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co giãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu hàng nhập khẩu co giãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai điều này đều góp phần cải thiện cán cân thương mại.
4.2. Xuất khẩu
Chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái
Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên.
Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ), thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ thu được và quy đổi về tiền trong nước trở nên cao hơn.
Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế: Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài. Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân. Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa.
4.3. Nhập khẩu
Có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. 
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.
4.4. Tỷ giá hối đoái
Là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên
4.5. Phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ là việc giảm giá trị của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ so với mức mà chính phủ đã cam kết duy trì trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Việc phá giá VND nghĩa là giảm giá trị của nó so với các ngoại tệ khác như USD, EUR…
Phá giá tiền tệ có tác dụng:
i) Khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng hóa, khôi phục lại cân bằng cán cân thương mại, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
ii) Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu ra bên ngoài, làm tăng ngoại hối, giảm cầu ngoại hối, tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống
iii) Khuyến khích phát triển du lịch nội địa, hạn chế du lịch ra nước ngoài, do đó quan hệ cung – cầu ngoại hối cũng sẽ bớt căng thẳng.
4.6. Cán cân thương mại cho thấy sự khác biệt giữa các khoản thu nhập từ xuất khẩu và các chi phí cho nhập khẩu
Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
5. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
5.1. Cơ sở lý thuyết
Theo lý thuyết kinh tế, sự mất giá của tỷ giá hối đoái danh nghĩa gây sức ảnh hưởng của nó đối với cán cân thương mại của một quốc gia thông qua ba cách. Thứ nhất, nó làm giảm khối lượng thực tế của hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn. Nhập khẩu thường bằng ngoại tệ và do đó số lượng ngoại tệ dành cho nhập khẩu giảm. Thứ hai, giảm giá khuyến khích xuất khẩu trở nên rẻ hơn đối với thị trường bên ngoài. Và cuối cùng, ngoại tệ thấp hơn là thu được một số lượng nhất định của xuất khẩu được tính bằng đồng nội tệ. Rõ ràng, trong khi hai yếu tố đầu tiên giúp cải thiện cán cân thương mại thì yếu tố thứ ba xấu đi. Hiệu quả tổng thể là một sự phá giá sản xuất trên cán cân thương mại vẫn chưa được biết và được xác định bởi kích thước tương đối của mỗi một trong ba tác dụng. Sau này, đến lượt nó, phụ thuộc vào số tiền mà hàng xuất khẩu và nhập khẩu đáp ứng với một mức độ nhất định của sự mất giá. Nói cách khác, nó là tính đàn hồi của xuất khẩu và độ co giãn của nhập khẩu đối với tỷ giá hối đoái sẽ xác định các tác động tổng thể của sự mất giá đối với cán cân thương mại. Theo các điều kiện Marshal Lerner, để giảm giá nhằm cải thiện cán cân thương mại, nó là cần thiết và đủ rằng tổng của độ co giãn của nhu cầu xuất khẩu và nhu cầu nhập khẩu vượt quá một. Bất kỳ sự kết hợp của độ co giãn xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng điều kiện Marshall-Lerner sẽ gây ra hai hiệu ứng đầu tiên được mô tả ở trên, dẫn đến cán cân thương mại được cải thiện.
Tất cả các phương pháp tiếp cận phát triển để giải thích tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại mất gốc rễ từ cách tiếp cận độ đàn hồi thường được biết đến. Phương pháp xem xét xuất khẩu và nhập khẩu phụ thuộc vào giá cả tương đối thông qua tỷ giá hối đoái. Để được chính xác hơn, Rincon (1998) cho rằng sự đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và nhập khẩu cho một sự thay đổi trong giá trị của một đồng tiền trong nước.
Phương pháp tính đàn hồi được dựa trên hai tác động trực tiếp của sự mất giá / khấu hao đối với cán cân tài khoản vãng lai. Hai tác động trực tiếp được đặt tên như một hiệu ứng lượng và hiệu quả giá cả. Khi đồng nội tệ mất giá hoặc chống lại ngoại tệ, hàng hóa trong nước có được tương đối rẻ hơn cho cả người trong nước và người nước ngoài. Mặt khác, hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn. Sau đó, tình trạng này sẽ dẫn đến sự gia tăng trong khối lượng hàng hóa xuất khẩu và giảm số lượng hàng hóa nhập khẩu.
Phương pháp tính đàn hồi trở nên phổ biến với những đóng góp nhất định bởi Marshall (1923) và Lerner (1944). Nó chỉ đơn giản nói rằng sự mất giá thực tế hoặc sự mất giá của đồng nội tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại nếu tổng các độ co giãn ở giá trị tuyệt đối, các nhu cầu nhập khẩu và xuất khẩu lớn hơn sự thống nhất.
Các nghiên cứu khác nhau của phương pháp thực nghiệm, cũng như các khu vực địa lý, thời gian, và độ co dãn cụ thể quan tâm. Hầu hết các tài liệu có liên quan áp dụng một trong hai kỹ thuật phổ biến mô hình: một cách tiếp cận hàm sản xuất (xem Kohli 1991) và “thay thế không hoàn hảo” mô hình phát triển bởi Goldstein và Kahn (1985). Cả hai mô hình có thể được áp dụng để tổng hợp các chức năng nhập khẩu và nhu cầu xuất khẩu hoặc sửa đổi để ước tính độ co giãn ở một mức độ chi tiết hơn. Những mô hình này cũng thường được sử dụng trong các nghiên cứu nhằm ước tính độ co giãn thu nhập của thương mại.
5.2. Các nghiên cứu trước
Có nhiều nghiên cứu đã kiểm tra các điều kiện Marshall-Lerner cho cả các nước phát triển và đang phát triển trong vòng 70 năm qua. Một số nghiên cứu tìm thấy bằng chứng ủng hộ điều kiện Marshall-Lerner. cũng có những nghiên cứu kết luận rằng không có bằng chứng để hỗ trợ các điều kiện Marshall-Lerner. Các nghiên cứu thực nghiệm về độ co giãn thương mại hoặc điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam là ít ỏi hoặc không tồn tại. 
Wilson và Takacs (1979) nghiên cứu các nước công nghiệp lớn cho giai đoạn 1957-1971 và ước tính đáp ứng của xuất khẩu và nhập khẩu của họ để tỷ giá hối đoái danh nghĩa mặc dù các tác giả không ước lượng tình trạng Marshall- Lerner trực tiếp.
Reinhart (1994) đã tiến hành một nghiên cứu của các dòng thương mại tổng hợp trong mười hai quốc gia đang phát triển, và tìm thấy bằng chứng đáng kể cho giá cả tương đối có tác động đến cán cân thương mại. Tuy nhiên, một kết quả của nghiên cứu này là co giãn giá của hàng nhập khẩu và xuất khẩu có xu hướng thấp. Trong hầu hết các trường hợp, các điều kiện Marshall-Lerner là không hài lòng. Liên quan đến kết quả này, Reinhart kết luận rằng sự mất giá tương đối lớn của tỷ giá hối đoái sẽ là cần thiết để thấy sự cải thiện trong cán cân thương mại. Reinhart cũng cho thấy rằng nội dung hàng hoá lớn của xuất khẩu châu Phi là một ảnh hưởng lớn trong việc làm giảm độ co giãn trong các nền kinh tế. 
Bahmani-Oskooee và Niroommand (1998) sử dụng số liệu tĩnh và phân tích cùng hội nhập Johansen để cung cấp co giãn thương mại mới cho gần 30 quốc gia.
Bahmani- Oskooee và Kara (2008) kiểm tra sự đáp ứng tương đối của các dòng thương mại với những thay đổi trong tỷ giá hối đoái và những thay đổi về giá tương đối bằng cách vẽ dữ liệu từ các nước đang phát triển và tìm thấy không có sự khác biệt có hệ thống trong các tác động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa và giá tương đối về thương mại cân đối.
Rose (1991) đã tiến hành một nghiên cứu lớn với bằng chứng chống lại lý thuyết này cho rằng tồn tại một mối quan hệ nhân quả giữa tỷ giá và cán cân thương mại. Rose áp dụng các mô hình thay thế không hoàn hảo để xem xét vai trò của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại trong năm quốc gia ổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lớn trong ngắn hạn, trung và dài hạn. Kết quả của ông tìm thấy không có sự hỗ trợ cho một hiệu ứng tỷ giá hối đoái trên cán cân thương mại trong ngắn hạn, và rất ít bằng chứng cho một liên kết trong dự toán trung và dài hạn. 
Jones (2008) điều chỉnh các mô hình thay thế không hoàn hảo để ước tính chỉ có độ co giãn giá nhập khẩu trong mười quốc gia châu Phi trong thời gian 1993- 2004. Những co giãn được ước tính trên cơ sở tập hợp, cũng như cho các nhóm sản phẩm khác nhau và các lĩnh vực theo quy định của Hệ thống hài hoà. Ở mức độ tổng hợp, những co giãn nhập khẩu châu Phi dài chạy được gần thống nhất. Tuy nhiên, Jones kết luận rằng nhu cầu nhập khẩu là đàn hồi hơn trong những ngành có mức độ tương đối cao của sản xuất trong nước hoặc nơi có kim ngạch xuất khẩu. Kết quả của ông cũng cho thấy nhu cầu nhập khẩu không co giãn cho các thành phần thống trị bởi hàng nhập khẩu. 
Loto (2011) kiểm tra các điều kiện Marshall-Lerner ở Nigeria trong 1986 – 2008. Ông kết luận rằng sự mất giá của tiền tệ sẽ chỉ làm trầm trọng cán cân thương mại, cho rằng tình trạng này không giữ. Thuộc tính này đến cấp độ cao của sự phụ thuộc nhập khẩu ở Nigeria và kết luận rằng nền kinh tế cấu trúc tương tự sẽ không thoả mãn điều kiện. 
>>>Xem đầy đủ luận văn tại link
Liên hệ dịch vụ viết luận văn:
Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *