CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN TRONG CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH CỦA TÔ HOÀI

5/5 - (1 bình chọn)
Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam: CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN TRONG CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH CỦA TÔ HOÀI
Giới thiệu dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của TS. NguyễnThị Ngọc Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này. Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô khoa Ngữ văn, các thầy cô trong Tổ bộ môn Văn họcViệt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan. Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. 
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5. Phương pháp nghiên cứu 16
CHƯƠNG 1. CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN TRONG CỐT TRUYỆN     “CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH” CỦA TÔ HOÀI 18
1.1. Khái niệm cốt truyện 18
1.2. Những chất liệu dân gian trong cốt truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài 21
1.2.1. Cách mở đầu và kết thúc truyện 21
1.2.2. Nội dung cốt truyện, tình tiết, diễn biến truyện 25
1.3. Sự giống nhau về nội dung cốt truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài và “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” 43
Tiểu kết chương 1 51
CHƯƠNG 2. CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN QUA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN “CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH” CỦA TÔ HOÀI 52
2.1. Khái niệm nhân vật 52
2.2. Những chất liệu dân gian qua nhân vật trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài 54
2.2.1. Nhân vật mang đậm chất cổ tích 54
2.2.2. Sự tương đồng và khác biệt giữa nhân vật trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài và truyện trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” 59
Tiểu kết chương 2 71
CHƯƠNG 3. CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN QUA MOTIF TRONG TRUYỆN “CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH” CỦA TÔ HOÀI 72
3.1. Khái quát chung 72
3.2. Những chất liệu truyện dân gian qua motif trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài 74
3.2.1. Motif ban thưởng, trừng phạt 74
3.2.2. Motif người đội lốt vật 80
3.2.3. Motif sự chết hóa thân 82
3.2.4. Một số motif khác 86
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ra đời từ khi dân tộc chưa có chữ viết, nhưng cho đến tận ngày hôm nay văn học dân gian vẫn tiếp tục tồn tại song hành cùng văn học thành văn với những ảnh hưởng sâu sắc không thể phủ nhận. Văn học dân gian vừa cung cấp nguồn chất liệu dồi dào cho văn học viết đồng thời cũng lại mang đến cho các tác giả hiện đại những cảm hứng sáng tác đầy bất ngờ. Vì thế, nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị đã nhận định:“Các nhà thơ học được thơ trong ca dao và học được văn trong truyện cổ tích”. Việc tìm hiểu dấu ấn của văn học dân gian trong các tác phẩm cụ thể sẽ giúp cho chúng ta không chỉ hiểu rõ hơn về phong cách nghệ thuật của các nhà văn hiện đại, thấy rõ hơn vị thế của văn học dân gian đối với sự vận động và phát triển của văn học dân tộc mà còn thấy được mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa văn học dân gian và văn học viết.
Nhà văn Tô Hoài có khối lượng sáng tác đạt kỉ lục trong nền văn học Việt Nam. Là “một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng” (Hà Minh Đức), ông đã khẳng định tên tuổi của mình trên nhiều thể loại như: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, kịch, hồi kí, chân dung văn học… Tô Hoài viết say sưa, miệt mài như một cách chạy đua với sự chảy trôi của thời gian, kéo dài sự sống, đối thoại với mọi người và cũng để gửi gắm cho cuộc đời. Đọc các sang tác của Tô Hoài, độc giả không chỉ choáng ngợp trước những hiểu biết phong phú, sâu rộng của nhà văn về cuộc sống, về văn hóa, phong tục… mà còn ngỡ ngàng nhận ra những thông điệp nhân sinh thấm thía ẩn sau những con chữ rất đỗi dung dị, đời thường. Đến với trang văn Tô Hoài, người đọc dễ dàng nhận ra sự say mê của ông đối với những câu chuyện cổ tích dân gian, những câu chuyện mà ông đã được bà ngoại kể từ thuở ấu thơ. Ông tâm sự trong lời tựa cuốn sách “ Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của mình: “Nghe cổ tích, ngẫm cổ tích, thấy được và cắt nghĩa được tất cả cơn cớ ta tồn tại, ta sinh sôi. Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật hoang đường đến đâu đều thấm đượm ý nghĩa đời người, con người nỗi niềm than thở hay ngàn vạn ước mong đều vẫn nảy nở từ trong tấm lòng nhân nghĩa và đức tính lam làm cùng với nụ cười thật hóm, thật duyên và phóng khoáng mọi nhẽ. Cái cười, rừng cười trong cổ tích Việt Nam sâu xa lòng tin và nghị lực” [27, tr. 4]. Ông nâng niu từng câu chuyện cổ, coi đó là kho báu quý giá của đời mình: “Chuyện cổ tích không biết có từ đời nào. Tưởng đoán không ngoa là những của báu khảo cổ trên mặt đất này đã ra đời cùng lúc với tiếng nói con người” [27, tr. 1]. Để rồi cho đến tận tuổi 90, Tô Hoài vẫn kịp dành tặng cho đời cuốn sách “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích”, thể hiện“một tâm tình” của nhà văn với “ơn huệ ông bà”. Đọc “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài, bản thân tôi đã bị hấp dẫn trước một không gian văn hóa đậm đà màu sắc dân tộc được nhà văn tái hiện bằng một lối viết giản dị, mộc mạc, tự nhiên mà cũng vô cùng sâu sắc. 
Là một giáo viên Ngữ văn tôi nhận thấy việc nghiên cứu ảnh hưởng của chất liệu dân gian trong tập sách này của Tô Hoài sẽ giúp tôi hiểu rõ hơn phong cách nghệ thuật của nhà văn, thấy rõ hơn việc tiếp thu và sáng tạo chất liệu dân gian trong trang văn Tô Hoài. Đây sẽ là những tri thức quý giá để tôi giúp học sinh của mình có thể chủ động chiếm lĩnh và cảm nhận vẻ đẹp trong những sáng tác của nhà văn.
Việc nghiên cứu nghệ thuật văn xuôi Tô Hoài nói chung và những sáng tác mang hơi thở chất liệu dân gian của ông nói riêng đã được các nhà nghiên cứu chú ý với nhiều công trình khoa học giá trị. Tuy nhiên, sự nghiên cứu vẫn bỏ ngỏ những khoảng trống cần được lấp đầy. Với tất cả những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài luận văn “Chất liệu truyện dân gian trong Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích của Tô Hoài” làm luận văn thạc sĩ tốt nghiệp của mình. Chúng tôi cũng muốn qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sẽ góp một phần bé nhỏ trong công việc của người nghiên cứu để hiểu hơn về sức ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết và cũng để góp thêm tiếng nói khẳng định vẻ đẹp văn chương của một nhà văn đã dành trọn đời mình mê mải trên cánh đồng chữ nghĩa đầy những nhọc nhằn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của truyện cổ dân gian tới văn học viết
Trong sự hình thành và phát triển của nền văn học của một dân tộc, văn học dân gian đóng vai trò rất quan trọng. Nhận xét ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn học thành văn trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều các công trình nghiên cứu như sau:
2.1.1. Trên thế giới
Có thể kể ra một số các tác giả và công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cổ tích của nhà văn và mối liên hệ giữa hai thể loại này như: 
Jens Tismar – được coi là học giả người Đức đầu tiên phân tích truyện cổ tích của nhà văn một cách có hệ thống thông qua hai công trình nghiên cứu: “Kunstmarchen” (Truyện cổ tích) (1977) và “Das deutsche Kunstmarchen des  zwanzigsten Jahrhunderts” (Truyện cổ tích Đức thế kỉ XX) (1981). Trong chuyên khảo đầu tiên của mình, Tismar đã đề ra các nguyên tắc để định nghĩa truyện cổ tích của nhà văn: “khác với truyện cổ dân gian bởi vì nó được viết bởi một tác giả nhất định; nó được tổng hợp, sáng tác và nghiên cứu so sánh với sự hình thành mang tính bản địa của truyện cổ dân gian xuất phát từ cộng đồng có thiên hướng đơn giản và vô danh; những sự khác nhau giữa truyện cổ tích của nhà văn và truyện cổ dân gian không có nghĩa là thể loại này tốt hoặc hay hơn thể loại kia; trên thực tế, truyện cổ tích của nhà văn không phải là thể loại độc lập nhưng chỉ có thể hiểu và định nghĩa bởi mối quan hệ của nó với những câu chuyện truyền miệng cũng như huyền thoại, tiểu thuyết và các truyện cổ tích văn học khác mà nó sử dụng, áp dụng và chỉnh sửa trong quan niệm thuật lại của nhà văn” [32, tr. 15-16].
Bàn về vấn đề thuật ngữ, Richard M. Dorson – nhà nghiên cứu văn học dân gian người Mỹ đưa ra khái niệm “nhại văn học dân gian” – Fakelore từ năm 1950. Theo đó văn học dân gian nhại và văn học dân gian giả là “văn học dân gian không nguyên bản, được sáng tác, trình bày như thể bản gốc truyền thống”. Trong quá trình nghiên cứu Dorson đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, điển hình là các bài báo: “Folklore and Fakelore”(Văn học dân gian và văn học dân gian nhại) (1950); “Fakelore”(Nhại văn học dân gian) (1969); và cuốn sách “Folklore and Fakelore: Essays toward a Discipline of Folk Studies” (Văn học dân gian và nhại văn học dân gian: những bài luận hướng tới một nguyên tắc của các nghiên cứu dân gian) (1976). 
Alan Dundes – nhà nghiên cứu văn học dân gian của Đại học California,  Berkeley trong bài viết “Nationalistic Inferiority Complexes and the Fabrication of Fakelore: A Reconsideration of Ossian, the Kinder – und Hausmärchen, the Kalevala, and Paul Bunyan” (Các tổ hợp bậc thấp của chủ nghĩa dân tộc và sự chế tác nhại văn học dân gian: một sự xem xét lại các trường hợp Ossian, Kinder – und Hausmarchen, Kalevala và Paul Bunyan) (1985) cho rằng truyện cổ tích của anh em nhà Grimms và một số tác giả khác là folklore.
>>>Nếu bạn đang trong quá trình viết luận văn thạc sĩ, bạn bận công việc không có thời gian để hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ cho mình được. Bạn cần một đơn vị viết thuê luận văn thạc sĩ để hỗ trợ thì có thể liên hệ với Luận Văn Group, chúng tôi nhận viết thuê luận văn đảm bảo uy tín chất lượng với giá cạnh tranh nhất thị trường.
Jason Marc Harris – nhà nghiên cứu người Anh, trong chuyên luận có tựa đề: “Folklore and the Fantastic in Nineteenth – Century British Literature” (Folklore và chất kì ảo trong văn học Anh thế kỉ XIX), đã tập trung nghiên cứu quá trình các nhà văn thế kỉ XIX bắt chước, sửa đổi và biến đổi các chất liệu dân gian vào trong các câu chuyện văn học kì ảo. Nguồn cội và sự khai sáng hợp lý cho việc hình thành thể loại văn học kì ảo ở Anh vào thế kỉ XIX đã gợi mở trong nghiên cứu Folklore ở phương Tây và các nước châu Âu. Giải thích về nguồn gốc và sự phát triển của truyện cổ tích có cuốn sách “Fairy Tales from before Fairy Tales” (Tiền thân của các câu chuyện cổ tích) của tác giả Jan M. Ziolkowski với chương điển hình như: “Folklore in Medieval Latin poetry” (truyện dân gian trong thơ la tinh thời trung cổ). Bên cạnh đó, Graham Anderson có bài viết “Fairy Tale in the Ancient world”(Truyện cổ tích trong thế giới cổ đại) đã khám phá truyện cổ tích đã tồn tại như thế nào trong các hình thức tiểu thuyết lãng mạn xa xưa. Tác giả Jack Zipes – có cuốn sách“The Oxford Companion to Fairy Tales” (Bạn đồng hành với những câu  chuyện cổ tích) (in lần đầu năm 2000 và tái bản lần hai năm 2014). Tác giả cuốn  sách này đã tập hợp tất cả những nghiên cứu gần đây nhằm cung cấp nhiều thông tin nhiều nhất có thể về những sáng tạo của các tác giả có đóng góp cho sự phát triển của truyện cổ tích văn học ở châu Âu và Bắc Mỹ (các quốc gia như Pháp, Đức, Anh, Ireland, Ý, Bồ Đào Nha,Tây Ban Nha và các nước Baltic). Hầu hết các phần bài viết trong cuốn sách này trình bày về thân thế, sự nghiệp và phong cách sáng tác của các nhà văn viết truyện cổ tích trên thế giới; sự hình thành văn chương của thể loại truyện cổ tích và sự phát triển của các loại truyện cổ tích cụ thể. Cho đến nay tác giả Jack Zipes vẫn tiếp tục cập nhật, bổ sung các thông tin, tài liệu liên quan đến truyện cổ tích của nhà văn để tái bản cuốn sách trong thời gian tới với nội dung ngày càng đầy đủ, hoàn thiện. 
Ngoài ra, có một số tác phẩm đáng chú ý khác như: “A companion to the Fairy Tale” (Một người bạn đồng hành với truyện cổ tích) của hai tác giả Hilda EllisDavidson và Anna Chaudhri Calvino’s Journey; “Modern Transformations of Folklore, Story and Myth” (Hành trình của Calvino: những biến thể hiện đại của truyện kể dân gian, truyện và huyền thoại) của tác giả Cristina Bacchilega; hay “The impact of Folklore on American Literature” (Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học Mỹ) của John T.Flanagan.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên cho thấy hiện tượng mô phỏng văn học dân gian như các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn là khá phổ biến. Trong trào lưu này xuất hiện nhiều tác giả nổi tiếng như: Grimm (Đức), Andersen (Đan Mạch), L.Tôn-xtôi và Pu-skin (Nga), La Phông-ten (Pháp)… Đánh giá quá trình hình thành và phát triển về mặt thể loại, có thể thấy sự gắn kết giữa cổ tích dân gian và văn học viết trên thế giới đã phản ánh mối quan hệ tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau và truyện cổ tích của nhà văn ra đời chính là kết quả của sự giao thoa giữa hiện đại và truyền thống.
2.2.2. Ở Việt Nam
Như trên đã nói, văn học dân gian là một bộ phận cấu thành quan trọng tạo nên sự phong phú đa dạng của nền văn học dân tộc. Văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng đã có sự tác động sâu sắc đến việc sáng tác của các nhà văn hiện đại. Tìm hiểu sức ảnh hưởng của truyện cổ dân gian tới văn học viết cũng như mối quan hệ giữa truyện cổ dân gian và các tác phẩm văn xuôi hiện đại đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm đến như:
Chu Xuân Diên trong bài viết “Nhà văn và sáng tác dân gian” đăng trên “tạp chí Văn học” (số 1/1966) cho rằng: “tính chất và qui mô mối liên hệ giữa nhà văn với sáng tác dân gian biểu hiện ra một cách khác nhau do phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, xã hội nhất định” [6, tr. 13] .
Lê Kinh Khiên trong bài viết “Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết” đăng trên tạp chí “Văn học dân gian” (số 1/1980) đã nhấn mạnh: “không thể nghiên cứu văn học dân gian mà không tìm hiểu tác động qua lại của nó với văn học viết, càng không thể hiểu được đầy đủ, sâu sắc bộ phận văn học viết nếu không biết đến ảnh hưởng của văn học dân gian” [35, tr. 327].
Các tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên trong công trình “Văn học dân gian Việt Nam”, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, năm 1994, cũng đã khẳng định những giá trị bền vững của văn học trong tương quan với văn học dân gian.
Nhà nghiên cứu Võ Quang Trọng trong bài viết “Một số đặc điểm của truyện cổ tích văn học trong mối quan hệ thể loại với truyện cổ tích dân gian” đăng trên tạp chí “Văn học dân gian” (số 2/1995) có nhận xét: “Viết truyện cổ tích là một hiện tượng phổ biến trên thế giới”. Trong bài viết của mình, tác giả đã khái quát một số đặc trưng truyện cổ tích nhà văn trong cái nhìn đối sánh với truyện cổ tích dân gian trên các phương diện: cốt truyện, nhân vật, hình thức lưu truyền… Ông khẳng định: “Truyện cổ tích văn học là một thể loại đang tồn tại và không ngừng phát triển trong đời sống văn hoc của nhiều nước trên thế giới. Việc tìm hiểu nghiên cứu nội dung, tư tưởng thẩm mỹ và đặc trưng thi pháp của thể loại trên cơ sở khảo sát từng tác giả cụ thể ở Việt Nam là một công việc lý thú và hấp dẫn” [56, tr. 57]. Tiếp tục nghiên cứu về ảnh hưởng của truyện cổ dân gian tới văn học viết trong cuốn “Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, năm 1997, ông đã chỉ ra sự trợ giúp đắc lực của văn học dân gian đối với việc tạo dựng môi trường hoàn cảnh trong tác phẩm văn xuôi hiện đại, trong việc xây dựng tính cách nhân vật với những đặc điểm tâm lý truyền thống, trong việc tiếp nối người kể truyện dân gian của nhân vật người kể chuyện trong văn xuôi hiện đại, trong việc tiếp thu phản ánh nghệ thuật dân gian và đặc thù là vai trò của sáng tác dân gian. 
Vũ Ngọc Khánh trong bài viết “Truyện cổ tích trong phát triển” đăng trên tạp chí “Văn học dân gian” (số 3/1998) đã có cái nhìn khá tổng quát về sự phát triển của truyện cổ tích từ dân gian đến hiện đại, từ khi truyền miệng đến khi được cố định bằng văn bản. Ông đã chỉ ra các chất liệu cổ tích đã được các nhà văn sử dụng sáng tạo trong các sáng tác: theo cốt truyện hoặc theo phong cách cổ tích như “Quả dưa đỏ”, “Cách ba nghìn năm”… các tác giả viết theo phong cách cổ tích như Tô Hoài, Phạm Hổ; các nhà văn tạo ra một loạt truyện mới bằng việc sử dụng các mô típ cổ tích dân gian nhưng lời văn hiện đại. Tác giả khẳng định rằng: “đây là trường hợp giống như có những nhà văn lấy đề tài hay nhân vật trong lịch sử để viết truyện. Lịch sử với họ chỉ là cái đinh cho họ treo những bức tranh mà thôi, cổ tích ở đây với họ cũng vậy. Có thể có lúc chất cổ tích đậm đà đây đó, song thực sự là họ đang viết tiểu thuyết”. Tác giả cũng đưa ra những khái niệm cổ tích của nhà văn đó là “những loại sáng tác mà lấy đề tài của cổ tích, có dựng chuyện, có sắp xếp gia công, có thể có cả hư cấu nữa, nhưng không đi xa với truyện cổ tích cho lắm. Nhân vật được cá tính hoá rõ ràng, các biện pháp miêu tả tâm lý, bình luận ngoại đề đều được sử dụng cũng còn là cổ tích của nhà văn” [51, tr. 15].
Tác giả Lã Thị Bắc Lý trong cuốn sách “Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975”, Nxb Đại học Quốc gia, năm 2000 đã nhấn mạnh đến việc gia tăng các thể loại mới của văn học thiếu nhi giai đoạn này, trong đó có thể loại truyện cổ tích hiện đại. Khi bàn đến thể loại này, tác giả đánh giá: “vấn đề sáng tác cổ tích mới được nhiều nhà văn quan tâm hơn, trong đó, Phạm Hổ là người đầu tiên đã mạnh dạn thể nghiệm sáng tác truyện sự tích cho các em” [41, tr. 45].
Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam”: “Giáo trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở hệ cao đẳng Sư phạm”, Nxb Giáo dục, năm 2001 đã khẳng định: “Chính truyện cổ dân gian mà chủ yếu là truyện cổ tích đã góp phần quan trọng vào sự hình thành loại truyện thơ và truyện vừa viết bằng tản văn trong nền văn học nước ta thời phong kiến. Những truyện cổ tích được viết lại dưới hình thức tản văn trong Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Thánh tông di thảo của vua Lê Thánh Tông, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đã góp phần quan trọng vào việc hình thành loại truyện vừa trong văn học Việt Nam thời trung đại” [49, tr. 18]. 
Luận án tiến sĩ Văn học “Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại” của Phạm Thị Trâm, năm 2002 tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội). Tác giả luận văn đã nhấn mạnh về dấu ấn của truyện cổ tích trong sáng tác của nhà văn hiện đại sau năm 1945. Tác giả đã chỉ ra khá cụ thể sự kế thừa và sáng tạo của nhà văn bằng cách khảo sát một số tác phẩm cụ thể của các tác giả văn học hiện đại mà trong sáng tác có mang dấu ấn sâu đậm chất liệu của văn học dân gian.
Lê Tiến Dũng trong bài viết “Đặc điểm nhân vật truyện cổ tích và việc hiện đại hoá truyện cổ dân gian” đăng trên tạp chí “Nghiên cứu văn học” (số3/2004) đã phát hiện ra tình trạng một số truyện cổ dân gian được các nhà văn dựng lên “một cách hiện đại”, “tính cách nhân vật truyện cổ được xây dựng như những tính cách nhân vật trong truyện ngắn hiện đại”. Đây là một thực tế cần được nhìn nhận lại, đòi hỏi nhà sưu tầm nắm vững đặc trưng thi pháp thể loại, nếu không sẽ rơi vào “tình trạng làm mới văn hoá cổ xưa, làm mất đi giá trị đích thực vốn có của nó” [5, tr. 15].
Bùi Thanh Truyền trong bài viết “Tiếp biến dân gian trong truyện viết cho thiếu nhi sau năm1986”, đăng trên “Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm” (số 4, 2015) đã nhận định: “đồng hành cùng trẻ thơ trên chuyến tàu trở về với cội nguồn dân tộc, một mặt người viết đã bộc lộ rất rõ sự nâng niu, trân trọng truyền thống, mặt khác cũng cho thấy rõ bản lĩnh, tài năng và tấm lòng của nhà văn, mong muốn đem đến cho các em những đặc sản tinh thần quen mà lạ” [53, tr. 5].
Những công trình trên đều đề cập đến mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở nhiều phương diện và mức độ khác nhau. Nhìn chung, ý kiến của các tác giả đều gặp nhau ở chỗ xác định ảnh hưởng của các sáng tác dân gian trong tác phẩm văn học là đa dạng, thậm chí rất sâu xa. Đồng thời có thể thấy các bài viết này đã tiếp tục khẳng định những tác động sâu sắc của truyện cổ dân gian đối với việc dựng truyện, xây dựng nhân vật trong các tác phẩm văn xuôi của các nhà văn Việt Nam hiện đại. Những ý kiến cụ thể của các nhà nghiên cứu trên chính là những gợi ý bổ ích mang tính chất định hướng cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn. Song vấn đề ảnh hưởng của chất liệu dân gian trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài được đề cập chưa nhiều .Chính vì vậy, đề tài mang tính thiết thực cao và cần thiết đối với người nghiên cứu trong quá trình nắm bắt tư tưởng và khám phá tác phẩm. Đặc biệt là thấy được vai trò và ảnh hưởng của chất liệu dân gian trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài trong tiến trình văn xuôi hiện đại Việt Nam.
2.2. Nghiên cứu truyện cổ viết lại của nhà văn Tô Hoài
Tô Hoài là một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt Nam để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và đặc sắc. Kể từ bài viết của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong bộ sách “Nhà văn hiện đại” (1943) cho tới nay đã có hàng trăm bài viết tìm hiểu về phong cách nghệ thuật của nhà văn với sức viết phi thường ấy. Riêng mảng truyện cổ tích viết lại của nhà văn cũng có nhiều công trình nghiên cứu và nhận xét, đánh giá:
Đỗ Bạch Mai trong bài viết “Đọc Chuyện nỏ thần” đăng trên tạp chí Văn nghệ, số ra ngày 19/1/1985 đã viết: “Chuyện nỏ thần An Dương Vương là một đề tài lịch sử, hấp dẫn, xưa nay đã có nhiều người viết, nhiều thể loại: thơ có, kịch có, truyện cũng có. Nhưng kể chuyện nỏ thần thành hình thức tiểu thuyết như nhà văn Tô Hoài làm, thì đây là lần đầu”. Theo tác giả thành công của Tô Hoài chính là ở chỗ đã lôi cuốn được độc giả nhỏ tuổi bằng chính lối văn gần gũi giản dị: “Giọng kể và lời văn đối thoại của nhà văn Tô Hoài có một phong vị đặc biệt, vừa không xa cách với lối nghĩ, lối nói của chúng ta ngày nay, vừa gợi được lối nghĩ, lối nói của con người ngày xưa. Có thể nói cuốn tiểu thuyết có một giọng văn thuần Việt khá mẫu mực. Và điều này, đối với các bạn đọc nhỏ tuổi của nhà xuất bản Kim Đồng, sẽ có một tác dụng tốt trong việc giáo dục các em về lời ăn tiếng nói hàng ngày” [42, tr. 13].
 Tác giả Hà Minh Đức trong “Tuyển tập Tô Hoài – tập 1”, Nxb Văn học, năm 1987 đã nhấn mạnh: “Đặc điểm đầu tiên dễ thấy qua những sáng tác của Tô Hoài là tinh thần dân tộc rõ nét và đậm sắc thái. Có thể nói rằng tất cả những cái ông viết ra đều thuộc về phần bản chất và tiêu biểu của đời sống dân tộc. Ông muốn trở về với ngọn nguồn của những truyền thuyết, thần tích, những câu chuyện cổ để tìm hiểu sự sống của dân tộc trong thời kì xa xưa và những cảm nghĩ và hình thái tư duy, với những hành động sáng tạo của người lao động trong quá trình đấu tranh giữ nước và dựng nước. Tô Hoài với lòng mến yêu sâu sắc truyền thống của dân tộc đã gửi bao tâm huyết và trí sáng tạo qua những trang viết” [13, tr. 128].
Nhà nghiên cứu Vũ Quần Phương trong bài viết “Tô Hoài văn và đời” đăng trên “Tạp chí văn học” (số 8/1994) đã khẳng định: “Trong văn xuôi, Tô Hoài có lối đi riêng. Ông nhảy qua các truyện thời sự mà quay về xa xưa. Ông viết về An Tiêm, về Loa Thành, về quân cờ đen đánh Pháp. Nhiều huyền thoại lịch sử được ông viết lại thành truyện cho nhi đồng. Đọc ông, người ta được tắm tâm hồn mình vào không khí Việt Nam truyền thống. Ông là người lưu giữ được nhiều nét cổ xưa, nhiều hương vị xưa mà không sa vào hoài cổ” [45, tr. 36].
Tiếp tục khám phá vẻ đẹp truyện dân gian viết lại của Tô Hoài, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong “Kỷ yếu 20 năm Nhà xuất bản Kim Đồng” năm 1977 đã có những nhận định về tiểu thuyết “Đảo hoang”: “Tiểu thuyết Đảo hoang của Tô Hoài muốn thông qua câu chuyện Mai An Tiêm nêu lên sức mạnh của ý chí và nghị lực con người gắn chặt với truyền thống chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm của dân tộc”. Ông khẳng định thế mạnh của nhà văn Tô Hoài: “biết khai thác những đặc điểm của thần thoại truyền thuyết và cổ tích để thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ riêng biệt của lứa tuổi thiếu niên. Thần thoại là một pho lịch sử thiêng liêng, pho kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu, là kết tinh trí tuệ của thị tộc, bộ lạc. Truyện cổ tích và ngụ ngôn cũng ghi lại những kinh nghiệm sống và vốn kiến thức rất phong phú về thiên nhiên và xã hội của nhân dân qua các thế kỷ”. Ông cho rằng thành công của Tô Hoài là đã biết khai thác: “Những truyện cổ tích, thần thoại, những câu chuyện thơ mộng trong văn học dân gian đã khơi dậy trí tưởng tượng, lòng khao khát muốn hiểu biết, khám phá đến mênh mông, vô tận của các em. Tô Hoài chủ trương viết lại câu chuyện ấy dưới một ánh sáng mới nhằm giáo dục thế hệ trẻ, đồng thời cũng nhằm bồi đắp thêm vào kho truyện huyền ảo, thi vị mà trí tuệ loài người đã để lại cho con cháu về sau” [10, tr. 94]. 
Ngoài ra, chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về tác giả Tô Hoài còn thấy có rất nhiều các khóa luận, luận văn và luận án có đi sâu vào tìm tòi, phát hiện những sáng tạo độc đáo trong truyện cổ viết lại của nhà văn Tô Hoài từ trước đến nay:
Luận án tiến sĩ Văn học “Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại” của Phạm Thị Trâm, năm 2002 tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội). Tác giả luận án đã khảo sát những dấu ấn của truyện cổ dân gian trong các sáng tác văn học giai đoạn trước và sau 1975, trong đó có các tác phẩm “Đảo hoang”, “Nhà Chử”, “Chuyện nỏ thần” của Tô Hoài. Tác giả khẳng định: “Nhà văn Tô Hoài khi xây dựng ba cuốn tiểu thuyết trên đã chú ý khai thác những thế mạnh của tiểu thuyết để mở rộng mọi chiều kích tác phẩm. Cốt truyện được nhà văn lấy từ truyện cổ, nhân vật cũng là nhân vật của truyện cổ, mạch cảm hứng cũng đi từ truyện cổ… Nhưng nội dung tác phẩm đã ở một tầm vóc mới” [51, tr. 91] 
Luận văn thạc sĩ Văn học “Thế giới nhân vật trong truyện dân gian viết lại dành cho thiếu nhi của Tô Hoài” của Vũ Thị Hợp, năm 2012 tại trường Đại học Vinh. Tác giả luận văn tập trung tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong bốn tập truyện: “101 chuyện ngày xưa”, “Nhà Chử”, “Chuyện nỏ thần”, “Đảo hoang”. 
Luận án tiến sĩ Văn học“Từ truyện cổ tích dân gian đến truyện cổ tích nhà văn” (trường hợp Tô Hoài, Phạm Hổ)” của Nguyễn Thanh Huyền, năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN). Tác giả luận án đã thực hiện khảo sát những ảnh hưởng, dấu ấn của truyện cổ tích dân gian trong các tác phẩm văn học của hai tác giả Tô Hoài và Phạm Hổ, tìm hiểu sự dung hợp phong cách văn học viết và phong cách văn học dân gian trong những sản phẩm nghệ thuật của hai nhà văn từ đó chỉ ra sự sáng tạo của các nghệ sĩ này đối với thể loại truyển cổ tích viết lại. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả luận án cũng khẳng định: “Chất liệu dân gian đã được Tô Hoài và Phạm Hổ sử dụng tài tình, thêm và bớt một cách hợp lý các yếu tố thần kì, khiến cho các câu chuyện trong các sáng tác “người” hơn, thực tế hơn”. “Các tác phẩm của hai tác giả chính là những mảng màu đặc sắc riêng trong bức tranh đẹp và quý giá của nền văn học cổ tích nói chung, cổ tích nhà văn của Việt Nam nói riêng” [32, tr. 73]. 
Gần đây nhất là luận văn thạc sĩ Văn học“Chất liệu dân gian trong bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần của Tô Hoài” của Nguyễn Thị Hân, năm 2017, tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Trong luận văn này, tác giả đã tìm hiểu và đánh giá những ảnh hưởng của văn hóa, văn học dân gian đến bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài: “với việc sử dụng chất liệu văn hóa và văn học dân gian kết hợp với khả năng sáng tạo đặc biệt của mình, Tô Hoài đã nhào nặn ra những đứa con tinh thần mới. Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần sẽ mang một màu sắc, một ý nghĩa mới, phản ánh được những vấn đề lớn lao mà nhà văn gửi gắm. Tô Hoài luôn biết kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, ông luôn hướng về cội nguồn dân gian, lấy đó làm cơ sở, đồng thời không quên bộc lộ những khả năng, cá tính sáng tạo của bản thân để tạo nên những tác phẩm có giá trị” [22, tr. 64].
Riêng với tập truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài, cũng có không ít những bài viết, luận văn nghiên cứu. 
Phải kể đến luận văn thạc sĩ Văn học “Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của Tô Hoài” của tác giả Lê Thị Hường, năm 2007 tại trường Đại học Vinh. Tác giả luận văn đã đi sâu tìm hiểu đặc điểm câu văn của Tô Hoài về mặt cấu trúc, mục đích giao tiếp từ đó rút ra những nét tiêu biểu về phong cách ngôn ngữ Tô Hoài trên phương diện sử dụng câu văn. 
Luận văn thạc sĩ Văn học “Chất cổ tích của nhân vật trong 101 truyện ngày xưa của Tô Hoài” của tác giả Nguyễn Ngọc Hồi, năm 2008, tại trường Đại học Vinh. Tác giả luận văn đã tập trung tìm hiểu so sánh điểm tương đồng và khác biệt trong các kiểu nhân vật phiếm chỉ, nhân vật có tên, nhân vật là loài vật trong tác phẩm của Tô Hoài và trong truyện cổ tích dân gian. 
Như vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu công phu về truyện cổ tích nhà văn nói chung, truyện cổ tích Tô Hoài mà cụ thể là “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” nói riêng. Đây chính là những tư liệu quý giá, những chỉ dẫn bổ ích hướng chúng tôi trên con đường nghiên cứu về sáng tác của Tô Hoài. Trên cơ sở tiếp thu những nghiên cứu quý báu của các nhà khoa học, các tác giả đi trước, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Chất liệu truyện dân gian trong Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài, với hy vọng sẽ góp phần làm rõ hơn khái niệm truyện cổ tích nhà văn và những ảnh hưởng của chất liệu dân gian đối với truyện cổ tích viết lại của Tô Hoài, mang đến một cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về phong cách nghệ thuật văn xuôi Tô Hoài và tiếp tục khẳng định những đóng góp đầy ý nghĩa của ông vào sự phát triển của văn xuôi hiện đại Việt Nam.
     3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với công trình này, mục đích nghiên cứu của luận văn người viết muốn chỉ ra được những yếu tố dân gian ẩn chứa trong truyện cổ dân gian với “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài trên một số phương diện nổi bật: Nhân vật, cốt truyện, các motif đặc trưng.
Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra một sự đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn về đặc trưng truyện cổ tích Tô Hoài, thấy được sự tiếp thu, kế thừa truyền thống và cả những cách tân, sáng tạo rất đáng trân trọng của nhà văn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích trên, luận văn nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thu thập, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về truyện cổ tích dân gian cũng như truyện cổ tích nhà văn đảm bảo cho việc phân tích, đánh giá về ảnh hưởng thể loại.
Chỉ ra và phân tích sự khác biệt giữa “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài với truyện cổ dân gian.
Xác lập các đặc trưng của truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chất liệu truyện dân gian (nhân vật, cốt truyện, motif ) trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài. 
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Sự ảnh hưởng của các yếu tố dân gian trong truyện cổ tích Tô Hoài ở các mảng truyện cổ tích loài vật, cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt.
Về phạm vi tư liệu: Tiến hành tìm hiểu, khảo sát “một trăm” truyện cổ tích viết lại in trong tập “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích”, trong thế đối sánh với “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”, tập 1-2 (in lần 8), Nxb Giáo dục, Hà Nội do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và biên soạn.  
      5. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn, chúng tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
– Phương pháp thống kê, phân loại: khi viết luận văn, tác giả luận văn đã sử dụng lựa chọn truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài và “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”.
– Phương pháp so sánh: đưa ra sự đối chiếu ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học viết, cụ thể là trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài để thấy được vai trò, ảnh hưởng to lớn của chất liệu dân gian.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: luận văn sử dụng phương pháp phân tích như một công cụ để tìm hiểu cụ thể một đặc điểm nào đó về nội dung và nghệ thuật của nhà văn có sử dụng chất liệu dân gian. Tuy nhiên, phân tích cần phải đi liền với tổng hợp vì như thế các kết luận không mang tính ngẫu nhiên, vụn vặt mà để thể hiện sự đánh giá mang tính khái quát và thuyết phục hơn.
– Phương pháp tiếp cận hệ thống: đặt tác phẩm “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài trong đặc điểm thi pháp văn học dân gian để thấy được tính kế thừa và sáng tạo của nhà văn giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vai trò và ảnh hưởng của văn học dân gian trong văn học viết.
Sử dụng những phương pháp nghiên cứu nêu trên, chúng tôi tin rằng những vấn đề đặt ra trong luận văn sẽ được thể hiện và lí giải một cách cụ thể, rõ ràng, có tính hiệu quả cao.
    6. Đóng góp của luận văn
Góp phần khẳng định những đóng góp không nhỏ của nhà văn Tô Hoài vào sự phát triển của văn xuôi Việt Nam, làm rõ hơn mối quan hệ giữa văn học với đời sống xã hội, về những đặc trưng thi pháp của nghệ thuật cổ xưa, những nét riêng của văn học hiện đại khi viết lại văn học quá khứ.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1. Chất liệu truyện dân gian trong cốt truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài  
Chương 2. Chất liệu truyện dân gian qua nhân vật trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài
Chương 3. Chất liệu truyện dân gian qua motif trong truyện “Chuyện ngày xưa một trăm cổ tích” của Tô Hoài
>>>>Bạn có thể xem đầy đủ luận văn tại link
Liên hệ dịch vụ viết bài:
Dịch vụ Luận Văn Group

Hotline/Zalo: 0967538624 Ms Huyền/ 0886091915 Ms Trang

Email: Lamluanvan123@gmail.com

Website: https://lamluanvan.net/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *